VÌ SAO PHÁT XÍT ĐỨC THẤT BẠI TRONG THẾ CHIẾN II

VÌ SAO PHÁT XÍT ĐỨC THẤT BẠI TRONG THẾ CHIẾN II Thất bại của Phát xít Đức trong Thế chiến II không xuất phát từ một trận thua đơn lẻ hay yếu tố thời tiết, mà là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố kinh tế, chiến lược, thể chế, quân sự và ý thức hệ đan xen suốt 6 năm chiến tranh. Về cơ bản, Đức Quốc xã đã xây dựng một cỗ máy quân sự rất giỏi ở cấp độ chiến thuật và chiến dịch, nhưng lại thất bại hoàn toàn ở cấp độ đại chiến lược, tức là chọn sai đối thủ, đánh giá sai quy mô cuộc chiến và không có khả năng duy trì sức mạnh khi cuộc chiến chuyển sang giai đoạn tiêu hao. ________________________________________ THAM VỌNG CỦA ĐỨC QUỐC XÃ Tham vọng của Đức Quốc xã trong Thế chiến II không đơn thuần là tranh giành vùng ảnh hưởng hay đòi lại các lãnh thổ đã mất sau Thế chiến I, mà là một dự án tái thiết lập trật tự thế giới dựa trên ý thức hệ chủng tộc và chủ nghĩa đế quốc cực đoan, được dựng trên 4 trụ cột. Trụ cột đầu tiên là "không gian sinh tồn" (Lebensraum) ở phía đông, mục tiêu cốt lõi đã được Hitler phác thảo từ cuốn Mein Kampf. Đức có kế hoạch xâm chiếm toàn bộ Đông Âu và phần châu Âu của Liên Xô đến tận dãy núi Ural để lấy đất đai canh tác và định cư cho người Đức, đồng thời kiểm soát vùng lúa mì Ukraine, trung tâm công nghiệp Donbas và các giếng dầu Caucasus nhằm đảm bảo nền kinh tế Đức không thể bị phong tỏa. Trụ cột thứ hai là trật tự chủng tộc và cải tạo nhân khẩu học, gắn liền với chính sách chủng tộc tàn bạo nhằm khôi phục và phát triển cái gọi là dòng máu Aryan thượng đẳng. Thông qua Generalplan Ost (Kế hoạch tổng thể phía Đông), vốn tồn tại dưới nhiều bản dự thảo nối tiếp nhau trong giai đoạn 1941-1942 chứ chưa từng được hoàn thiện thành một văn bản chính thức duy nhất, Đức dự định xóa bỏ người Do Thái qua cuộc diệt chủng Holocaust, đồng thời tiêu diệt, trục xuất hoặc nô dịch hóa hàng chục triệu người Slav gốc Nga, Ba Lan, Ukraine để lấy chỗ cho người Đức định cư. Trụ cột thứ ba là thiết lập Đế chế Đại Đức (Großdeutsches Reich), xóa bỏ hoàn toàn trật tự Versailles lập ra sau Thế chiến I bằng cách sáp nhập toàn bộ các cộng đồng nói tiếng Đức tại châu Âu vào một quốc gia thống nhất, đồng thời biến Tây Âu, Bắc Âu và Nam Âu thành các quốc gia chư hầu chịu sự chi phối tuyệt đối của Berlin. Trụ cột thứ tư là tham vọng bá chủ toàn cầu, chia sẻ thế giới với phe Trục. Đức dự định hạ bệ Đế quốc Anh để chiếm quyền kiểm soát Địa Trung Hải, Trung Đông và các tuyến hàng hải toàn cầu, sau đó cô lập và khuất phục Mỹ. Cùng với Ý và Nhật Bản, Đức sẽ thiết lập một "trật tự mới" (New Order), trong đó Đức làm bá chủ châu Âu và châu Phi còn Nhật Bản nắm giữ châu Á - Thái Bình Dương. Chính tính chất một mất một còn, không chấp nhận thương lượng của tham vọng này đã biến Thế chiến II thành cuộc xung đột thảm khốc nhất lịch sử nhân loại. ________________________________________ NGUỒN GỐC CỦA SỰ TỰ TIN THÁI QUÁ Sự tự tin đến mức hoang tưởng của Đức Quốc xã không tự nhiên sinh ra mà được củng cố liên tục từ lịch sử, thực tiễn chiến thắng ban đầu, năng lực khoa học kỹ thuật và tâm lý ý thức hệ cuồng tín. Trước khi tấn công Liên Xô, Hitler và giới tướng lĩnh Đức chưa từng nếm mùi thất bại thực sự trên bộ. Đức sáp nhập Áo năm 1938 và chiếm Tiệp Khắc năm 1939 mà không tốn một viên đạn nhờ sự nhượng bộ của Anh và Pháp, sau đó chiến thuật Blitzkrieg đánh bại Ba Lan chỉ trong 3 tuần năm 1939 và đánh bại quân đội Pháp, vốn được coi là lục quân mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ, chỉ trong 6 tuần năm 1940, trước khi làm chủ toàn bộ Bắc Âu và Balkan trong thời gian kỷ lục. Chuỗi chiến thắng gần như không tổn thất này tạo ra một ảo tưởng tập thể từ cấp chỉ huy tối cao đến lính binh nhì rằng không lực lượng nào trên thế giới có thể cản nổi quân đội Đức. Sự tự tin đó cũng có cơ sở thực tế nhất định. Đức là quốc gia tiên phong tích hợp xe tăng, bộ binh cơ giới, pháo binh và không quân Stuka thành một khối tác chiến hợp đồng binh chủng thống nhất, trong khi các đối thủ vẫn coi xe tăng chỉ là công cụ hỗ trợ bộ binh rải rác. Học thuyết Auftragstaktik cho phép sĩ quan chiến trường Đức tự do đưa ra quyết định linh hoạt mà không cần chờ lệnh từ đại bản doanh, tạo ra tốc độ phản ứng vượt trội so với cấu trúc chỉ huy cồng kềnh của Pháp hay Liên Xô, cộng với nền công nghiệp hóa chất và cơ khí chính xác hàng đầu thế giới đứng sau các loại vũ khí như xe tăng Panzer, máy bay Messerschmitt hay pháo 88mm. Song song đó, Đức đánh giá đối thủ dựa trên các số liệu tình báo phiến diện. Trận Đại thanh trừng 1937-1938 khiến Stalin xử tử hoặc bãi nhiệm phần lớn sĩ quan cao cấp Hồng quân, còn cuộc chiến Mùa đông 1939-1940 cho thấy Hồng quân vật lộn vất vả mới thắng được Phần Lan nhỏ bé, khiến Đức kết luận Hồng quân chỉ là "gã khổng lồ chân đất sét". Đức cũng tin rằng Anh bị cô lập trên đảo quốc và không còn năng lực đổ bộ vào lục địa, còn Mỹ bị xem là một xã hội chia rẽ bởi chủ nghĩa lập trường trung lập và tư bản ích kỷ, không có khả năng biến năng lực công nghiệp thành sức mạnh quân sự thực chiến nhanh chóng. Yếu tố sâu xa nhất là ý thức hệ chủng tộc, thứ đóng vai trò như một tấm kính màu làm méo mó tư duy chiến lược của giới lãnh đạo Đức. Tin theo chủ nghĩa chủng tộc kiểu Darwin xã hội, Hitler cho rằng lịch sử nhân loại là cuộc đấu tranh sinh tồn giữa các chủng tộc, trong đó người Đức Aryan là thượng đẳng còn người Do Thái và người Slav là hạ đẳng (Untermenschen). Từ niềm tin đó, Hitler suy ra rằng một dân tộc "hạ đẳng" như Liên Xô không thể sở hữu tinh thần chiến đấu hay năng lực tổ chức bền vững, chỉ cần một cú hích mạnh là toàn bộ xã hội Xô Viết sẽ tự sụp đổ từ bên trong. Theo hồi ký của các tướng lĩnh Đức như Franz Halder và Alfred Jodl, trước thềm Barbarossa Hitler đã tuyên bố với họ: "Chỉ cần đạp vỡ cửa, toàn bộ căn nhà mục nát sẽ sụp đổ." Nhìn chung, Đức tin mình làm được vì đã nhầm lẫn giữa ưu thế tác chiến ngắn hạn với sức mạnh tổng hợp chiến lược dài hạn, để những chiến thắng quá nhanh và quá rẻ trước đó che mắt họ khỏi thực tại khốc liệt về quy mô địa lý, tài nguyên và sức bền của các cường quốc đối thủ. ________________________________________ VÌ SAO ĐA SỐ NGƯỜI ĐỨC ỦNG HỘ HITLER Sự ủng hộ sâu rộng của công chúng Đức đối với Hitler và Đảng Quốc xã không thể được giải thích đơn giản bằng việc "bị nhồi sọ" hay "bị lừa gạt". Các nghiên cứu lịch sử xã hội và kinh tế chính trị hiện đại, trong đó có công trình của Ian Kershaw và Robert Gellately, chỉ ra rằng sự ủng hộ này là có thật và đến từ lợi ích thực tế, thành tựu cụ thể cùng sự đồng điệu tâm lý dân tộc. Trước khi Hitler lên nắm quyền năm 1933, nước Đức chìm trong Đại khủng hoảng với khoảng 6.000.000 người thất nghiệp. Nhờ các chương trình đầu tư công quy mô lớn như xây dựng đường cao tốc Autobahn kết hợp với tái vũ trang, nạn thất nghiệp gần như bị xóa bỏ hoàn toàn vào năm 1936. Các chương trình phúc lợi như Kraft durch Freude (Sức mạnh qua Niềm vui) mang lại cho người lao động bình dân cơ hội du lịch, xem kịch và tham gia hoạt động thể thao, những điều trước đó chỉ dành cho giới thượng lưu. Đối với một người Đức vừa trải qua cảnh chết đói và mất nhà cửa, việc có lại công ăn việc làm là bằng chứng trực quan nhất cho thấy chính quyền Hitler hiệu quả hơn nhiều so với nền Cộng hòa Weimar yếu kém. Sau Thế chiến I, người Đức sống trong cảm giác bị bôi nhọ bởi Hòa ước Versailles vì bị ép nhận toàn bộ trách nhiệm chiến tranh, mất đất và bồi thường khổng lồ. Hitler đã thực hiện chính xác những gì người dân mong muốn khi tái chiếm vùng Rhineland năm 1936, sáp nhập Áo năm 1938 và đòi lại vùng Sudetenland, phần lớn mà không cần nổ súng, biến ông ta thành hình ảnh vị anh hùng dân tộc phục hưng nước Đức. Việc Hitler trấn áp các băng nhóm và đem lại trật tự kỷ cương sau thời kỳ Weimar hỗn loạn cũng khiến tầng lớp trung lưu vô cùng hài lòng. Sức hút xã hội lớn nhất của Quốc xã còn nằm ở ý tưởng xây dựng một "Cộng đồng Dân tộc" (Volksgemeinschaft) bình đẳng cho tất cả những người mang dòng máu Đức, xóa bỏ sự phân biệt giai cấp khắt khe truyền thống giữa quý tộc, tư sản và công nhân. Đổi lại cho sự chăm lo cho đa số người Đức là sự phân biệt và gạt bỏ các nhóm thiểu số, gồm người Do Thái, người da màu và phe đối lập chính trị. Nhà sử học Robert Gellately mô tả đây như một dạng giao kèo ngầm giữa chính quyền và dân chúng, trong đó đa số người Đức chấp nhận nhắm mắt trước sự tước đoạt nhắm vào nhóm thiểu số để đổi lấy an sinh và quyền lợi cho chính mình. Bộ máy tuyên truyền của Joseph Goebbels còn xây dựng nên một huyền thoại về Hitler tách biệt hẳn với thực tế cồng kềnh, tham nhũng và xung đột nội bộ của bộ máy Đảng Quốc xã. Dân chúng thường phân biệt Hitler với các quan chức cấp dưới, đến mức khi có tiêu cực xảy ra, câu nói phổ biến thời đó là: "Nếu Führer biết điều này, ông ấy sẽ sửa chữa nó." Cuối cùng, Hitler không tự nghĩ ra chủ nghĩa bài Do Thái hay chủ nghĩa chống cộng, mà khai thác những định kiến đã tồn tại sâu sắc trong xã hội Đức và châu Âu từ trước. Nỗi sợ chủ nghĩa cộng sản Xô Viết lan rộng sau năm 1917 khiến giới kinh doanh, nông dân sở hữu đất và tầng lớp trung lưu coi Hitler là lá chắn duy nhất bảo vệ tài sản của họ, trong khi định kiến bài Do Thái âm ỉ nhiều thế kỷ tại châu Âu khiến việc chính quyền từng bước tước quyền của người Do Thái ban đầu không gặp phải sự kháng cự đáng kể từ công chúng. Mức độ ủng hộ này không đồng đều giữa các vùng miền, giai cấp và giai đoạn. Các thành phố như Berlin hay Köln vốn có truyền thống cánh tả và Công giáo mạnh vẫn là nơi Quốc xã gặp nhiều kháng cự hơn, còn sự nhiệt thành của công chúng nhìn chung chỉ giữ vững chừng nào chính quyền còn mang lại chiến thắng và thịnh vượng. Theo các báo cáo thời chiến và nghiên cứu hậu chiến của lực lượng Đồng minh, niềm tin của dân chúng vào chế độ sa sút rõ rệt sau thất bại Stalingrad tháng 2/1943 và tiếp tục suy giảm khi các đợt ném bom của Đồng minh xuống các thành phố Đức ngày càng dữ dội trong giai đoạn 1943-1945. ________________________________________ NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI THẤT BẠI Nếu gạt qua các yếu tố khách quan như thời tiết hay quy mô công nghiệp vượt trội của Đồng minh, thất bại của Đức còn xuất phát từ những sai lầm chủ quan nghiêm trọng trong khâu đánh giá, lập kế hoạch và chỉ huy của giới lãnh đạo Quốc xã, đan xen với chính bất lợi khách quan về tài nguyên. Đức là một cường quốc công nghiệp nhưng thiếu hụt trầm trọng các nguồn tài nguyên chiến lược dài hạn, đặc biệt là dầu mỏ, cao su và quặng sắt chất lượng cao. Chiến thuật Blitzkrieg được thiết kế chính vì Đức không thể chịu đựng một cuộc chiến tiêu hao kéo dài, nhưng khi không thể đánh bại Liên Xô trong năm 1941, Đức bị cuốn vào một cuộc chiến tổng lực, nơi quy mô sản xuất công nghiệp và nguồn lực người, tài nguyên mới quyết định cục diện. Từ năm 1942, tổng sản lượng công nghiệp quốc phòng của khối Đồng minh gồm Mỹ, Liên Xô, Anh đã vượt trội hoàn toàn so với phe Trục, và khi Mỹ tham chiến với năng lực công nghiệp khổng lồ cùng chương trình Lend-Lease viện trợ cho Liên Xô, khoảng cách này trở nên không thể đảo ngược. Đức Quốc xã còn xây dựng kế hoạch chiến tranh dựa trên sự coi thường mang tính định kiến đối với năng lực đối thủ. Bộ Tổng tham mưu Đức ước tính Liên Xô chỉ có khoảng 200 sư đoàn ở khu vực phía tây, nhưng đến giữa tháng 8/1941 con số thực tế mà Hồng quân huy động được đã lên tới 360 sư đoàn, khiến tướng Franz Halder phải thừa nhận trong nhật ký rằng "gã khổng lồ Nga" đã bị đánh giá thấp một cách nghiêm trọng. Khi Đức tiêu diệt xong lớp quân đồn trú ban đầu, họ liên tục phải đối mặt với những đợt quân dự bị mới được huy động từ chiều sâu không gian địa lý gần như vô tận của Liên Xô, trong khi phần lớn nền công nghiệp quốc phòng Xô Viết đã kịp di dời về phía đông dãy Ural để tiếp tục sản xuất xe tăng T-34 và pháo binh với quy mô vượt xa Đức. Việc tấn công Liên Xô tháng 6/1941 khi chưa dứt điểm được Anh ở phía Tây đã buộc Đức phải chiến đấu trên hai mặt trận khổng lồ. Cùng lúc đó, quan hệ Đức-Mỹ cũng đã căng thẳng leo thang từ cả hai phía, với nhiều vụ đụng độ giữa tàu ngầm Đức và tàu Mỹ trên Đại Tây Dương cùng việc Mỹ viện trợ Lend-Lease cho Anh và Liên Xô từ tháng 3/1941, nhưng chính Đức là bên chính thức tuyên chiến trước: ngày 11/12/1941, chỉ vài ngày sau khi Hồng quân mở cuộc phản công quyết định trước cửa ngõ Moscow, Đức tự tuyên chiến với Mỹ và chính thức hoàn tất thế bị bao vây chiến lược. Đức phát động chiến dịch quân sự lớn nhất lịch sử nhân loại nhưng không chuẩn bị trang phục mùa đông, dầu mỡ bôi trơn chịu lạnh hay phụ tùng thay thế cho xe tăng và máy bay, vì tin rằng chiến dịch sẽ kết thúc trước tháng 10/1941. Khổ đường sắt rộng hơn của Liên Xô so với Đức càng khiến lực lượng hậu cần Đức không thể chuyển tải hàng hóa kịp thời khi tiến sâu, dẫn đến tình trạng hết nhiên liệu và đạn dược ngay trước cửa ngõ Moscow. Sâu xa hơn những quyết định cá nhân của Hitler còn là một cấu trúc thượng tầng vốn tồn tại nhiều điểm yếu cố hữu. Bộ máy chỉ huy Đức Quốc xã vận hành song song hai cơ quan cạnh tranh nhau là OKW, Bộ Tư lệnh Tối cao Quân lực, và OKH, Bộ Tư lệnh Lục quân, mà không có một chuỗi chỉ huy thống nhất. Đến năm 1942, OKW nắm quyền chỉ huy trên các mặt trận Tây Âu còn OKH phụ trách mặt trận phía Đông, khiến cùng một đơn vị có thể bị điều chuyển qua lại giữa hai hệ thống chỉ huy khác nhau tùy chiến trường. Bản thân Hitler, với tư cách tổng tư lệnh tối cao, ngày càng can thiệp trực tiếp vào cả hai cơ quan này, và tình trạng chia cắt đó kéo dài đến tận cuối chiến tranh: OKH chỉ chính thức bị đặt dưới quyền OKW vào ngày 28/4/1945, hai ngày trước khi Hitler tự sát. Đây không phải sự chồng chéo ngẫu nhiên mà xuất phát từ chủ đích của Hitler, người thường xuyên để các cơ quan và quân chủng cạnh tranh quyền lực, nguồn lực lẫn nhau để mọi tranh chấp đều phải đưa lên chính ông phân xử, qua đó củng cố quyền lực tuyệt đối cá nhân nhưng lại làm tê liệt khả năng hoạch định chiến lược thống nhất, dài hạn của cả bộ máy chiến tranh. Bộ Tổng chỉ huy Đức và Hitler còn liên tục tranh cãi về mục tiêu tối thượng của chiến dịch, dẫn đến việc đổi hướng quân giữa chừng. Trong khi các tướng lĩnh muốn dồn lực chiếm Moscow, trung tâm hành chính và đầu mối giao thông của Liên Xô, Hitler lại muốn tản quân xuống phía nam để chiếm dầu mỏ Caucasus và lúa mì Ukraine. Tháng 8/1941, Hitler rút Cụm Tập đoàn quân Thiết giáp số 2 của Guderian khỏi hướng Moscow để đánh Kiev, và dù thắng lớn ở đó, Đức đã đánh mất khoảng thời gian khô ráo quý giá để chiếm Moscow trước khi bùn lầy và băng giá mùa đông xuất hiện. Từ cuối năm 1941, Hitler tự đảm nhận chức Tổng tư lệnh Lục quân và ngày càng biến các quyết định quân sự thành những mệnh lệnh chính trị cứng nhắc, can thiệp thô bạo vào chỉ huy tác chiến ở cấp chiến trường. Sai lầm nghiêm trọng nhất về mặt chính trị lại nằm ở chính sách chủng tộc cuồng tín của Quốc xã, thứ đã triệt tiêu cơ hội chính trị của chính họ. Tại các vùng chiếm đóng ở Ukraine và Belarus, ban đầu nhiều người dân từng chào đón quân Đức vì bất mãn với chính quyền Stalin, nhưng thay vì tận dụng điều này để xây dựng lực lượng đồng minh bản địa, SS và chính quyền Quốc xã lại thực hiện chính sách tàn sát, cưỡng bức lao động và phân biệt chủng tộc. Chính sự dã man này đã đẩy dân chúng và các lực lượng du kích vào thế đấu tranh sinh tồn, biến hậu phương của Đức thành một mặt trận thứ hai, nơi hàng trăm nghìn du kích liên tục đánh phá đường tàu, kho tàng và dây thông tin của Đức. ________________________________________ STALINGRAD: BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH Trận Stalingrad, diễn ra từ tháng 8/1942 đến tháng 2/1943, được xem là bước ngoặt quyết định đảo chiều Thế chiến II. Thất bại thảm hại của Tập đoàn quân số 6 của Đức cùng các lực lượng đồng minh phe Trục không chỉ đến từ sự kiên cường của Hồng quân, mà còn bắt nguồn từ một chuỗi sai lầm chỉ huy nghiêm trọng, từ cấp đại chiến lược đến cấp tác chiến của Bộ Tư lệnh Đức. Kế hoạch ban đầu của Đức cho mùa hè năm 1942, mang tên Chiến dịch Blau, là dồn toàn lực tiến xuống vùng Caucasus để chiếm các giếng dầu sinh tử tại Baku, còn Stalingrad ban đầu chỉ là mục tiêu phụ nhằm cắt đứt tuyến giao thông trên sông Volga và bảo vệ sườn phía bắc cho lực lượng đang tiến vào Caucasus. Tháng 7/1942, do quá tự tin vào đà tiến quân nhanh chóng, Hitler đưa ra Chỉ thị số 45, chia Cụm Tập đoàn quân Nam thành hai cụm A và B để cùng lúc thực hiện hai mục tiêu lớn là chiếm giếng dầu Caucasus và đánh chiếm Stalingrad. Sự phân tán này khiến cả hai mũi tấn công đều thiếu hụt nhiên liệu, quân số và sự hỗ trợ không quân cần thiết để dứt điểm mục tiêu. Tướng Friedrich Paulus, tư lệnh Tập đoàn quân 6, và Hitler còn phạm sai lầm khi quyết tâm chiếm từng ngôi nhà, góc phố ở Stalingrad thay vì bao vây hoặc cô lập thành phố. Chiến thuật Blitzkrieg dựa vào tốc độ và không gian mở, nhưng trong lòng thành phố đổ nát, xe tăng Đức không thể cơ động và trở thành mục tiêu dễ dàng cho bộ binh Liên Xô dùng vũ khí chống tăng và chai cháy. Tư lệnh Liên Xô Vasily Chuikov còn chỉ đạo Hồng quân duy trì khoảng cách tác chiến cực gần chỉ vài chục mét với quân Đức, khiến không quân Đức không thể ném bom hỗ trợ vì sợ trúng quân nhà. Để dồn toàn bộ Tập đoàn quân số 6, lực lượng tinh nhuệ nhất, vào lòng thành phố, Bộ Tư lệnh Đức đã giao hai sườn rộng hàng trăm kilômét ở phía bắc và nam Stalingrad cho các tập đoàn quân Rumania, Hungary và Ý bảo vệ, những lực lượng vốn được trang bị và huấn luyện kém hơn nhiều so với quân Đức. Khi vòng vây của Liên Xô khép lại vào ngày 23/11/1942, cơ hội cứu vãn Tập đoàn quân số 6 vẫn còn nếu họ lập tức rút khỏi thành phố và bứt phá về hướng tây, nhưng Hitler ra lệnh cho Paulus phải trụ lại bằng mọi giá, biến Stalingrad thành một "pháo đài" (Festung), còn Paulus tuân lệnh tuyệt đối, không dám chủ động mở đường máu khi lực lượng còn đủ đạn dược và nhiên liệu. Nguyên soái không quân Hermann Goering còn hứa hẹn Luftwaffe có thể cầu hàng không cung cấp 500 tấn nhu yếu phẩm mỗi ngày cho lực lượng bị vây, nhưng thực tế không quân Đức chỉ đáp ứng trung bình khoảng 117 tấn mỗi ngày do thời tiết khắc nghiệt và bị phòng không Liên Xô bắn phá dữ dội. Tháng 12/1942, Nguyên soái Erich von Manstein được giao chỉ huy Cụm Tập đoàn quân Don, mở Chiến dịch Wintergewitter (Bão Mùa đông) để phản công từ bên ngoài giải cứu Stalingrad, và mũi xe tăng của ông đã tiến tới cách vòng vây chỉ khoảng 48 km. Manstein yêu cầu Paulus mở cuộc tấn công từ bên trong đánh ra để hội quân, nhưng Hitler cấm rút khỏi Stalingrad, còn Paulus lấy lý do Tập đoàn quân 6 chỉ còn đủ nhiên liệu cho xe tăng chạy khoảng 30 km nên không thực hiện lệnh bứt phá. Mũi giải cứu của Manstein cuối cùng kiệt sức và buộc phải rút lui khi Hồng quân mở tiếp Chiến dịch Saturn đe dọa cắt đứt toàn bộ cụm cánh nam của Đức. Sự sụp đổ của Tập đoàn quân số 6 vào ngày 02/02/1943 là minh chứng điển hình cho việc ý thức hệ và sự cuồng tín chính trị lấn át tư duy quân sự thực tế. Việc coi trọng giá trị biểu tượng của thành phố mang tên Stalin đã đẩy cỗ máy chiến tranh Đức vào một cái bẫy không thể cứu vãn. ________________________________________ CÁC KỊCH BẢN GIẢ ĐỊNH: LIỆU ĐỨC CÓ THỂ TRÁNH THẤT BẠI Nếu xét trong kịch bản giả định một đấu một hoàn toàn độc lập, không có đồng minh, không có hỗ trợ hậu cần hay tiếp viện từ bên ngoài cho bất kỳ bên nào, Đức Quốc xã không có khả năng đánh bại hai siêu cường Liên Xô và Mỹ, dù sở hữu lực lượng tác chiến tinh nhuệ và học thuyết quân sự vượt trội ở cấp độ chiến thuật. Trong kịch bản Đức đối đầu Liên Xô, nếu Liên Xô không nhận được viện trợ Lend-Lease từ Mỹ và Anh và không phải lo ngại mặt trận phía Tây hay nguy cơ từ Nhật Bản, Đức vẫn cực kỳ khó khuất phục được cỗ máy Xô Viết. Lực lượng Đức bị vắt kiệt sức lực khi càng tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô, còn sự kéo giãn đường cung ứng hậu cần hàng nghìn kilômét là điểm yếu cố hữu mà Đức không thể khắc phục bằng kỹ thuật hay chiến thuật. Liên Xô sở hữu quy mô dân số vượt trội, khả năng huy động quân đội gần như vô hạn và khả năng chịu đựng tổn thất khủng khiếp để học hỏi và tái tổ chức lực lượng, điều mà cỗ máy chiến tranh Đức vốn dựa vào đánh nhanh thắng nhanh không thể đáp ứng trong một cuộc chiến tiêu hao kéo dài. Trong kịch bản Đức đối đầu Mỹ, hai nước bị ngăn cách bởi Đại Tây Dương và Đức gần như không có cửa thắng về dài hạn. Mỹ là cường quốc công nghiệp lớn nhất thế giới thời điểm đó, đủ sức vừa xây dựng hạm đội hai đại dương vừa sản xuất lượng vũ khí khổng lồ cho cả khối Đồng minh, hoàn toàn đè bẹp quy mô sản xuất của Đức. Đức không có hạm đội hải quân đủ mạnh và hoàn toàn không có khả năng đổ bộ hay đe dọa lục địa Mỹ, trong khi Mỹ sở hữu tiềm lực đóng tàu và hàng không mẫu hạm vượt trội để từng bước kiểm soát đại dương, cùng tiềm lực khoa học đủ để hoàn thành Dự án Manhattan trước Đức và tạo ra ưu thế tuyệt đối về vũ khí hạt nhân ở giai đoạn sau của cuộc chiến. Ngược lại, trong kịch bản một đấu một với các cường quốc châu Âu còn lại, Đức gần như áp đảo hoàn toàn. Nói cách khác, cỗ máy quân sự Đức Quốc xã được tối ưu hóa cho tác chiến ngắn hạn và trung hạn, nhưng khi bước vào một cuộc chiến tổng lực một đấu một kéo dài, Đức sẽ thua Liên Xô vì chiều sâu không gian và nhân lực, và thua Mỹ vì sức mạnh công nghiệp cùng năng lực kiểm soát đại dương. Ngoài kịch bản một đấu một nói trên, các nhà nghiên cứu và sử học quân sự trung lập như Richard Overy, David Glantz, Ian Kershaw hay B.H. Liddell Hart đã phân tích nhiều kịch bản giả định lịch sử, theo đó nếu Đức Quốc xã thay đổi một số đường lối then chốt, họ có thể đã không sụp đổ hoàn toàn hoặc đạt được một hòa ước có lợi. Tuy nhiên, giới nghiên cứu cũng chỉ ra một nghịch lý là những đường lối khác đó lại mâu thuẫn trực tiếp với chính bản chất ý thức hệ của Đức Quốc xã. Về địa chính trị, nhà sử học quân sự Liddell Hart cho rằng sai lầm lớn nhất của Đức là mở mặt trận phía Đông năm 1941, thay vì hoãn tấn công Liên Xô và dồn toàn bộ nguồn lực, chỉ cần khoảng 10-15% lực lượng dự kiến đánh Liên Xô, xuống Địa Trung Hải và Bắc Phi. Theo hướng này, Đức và Ý có thể chiếm trọn kênh đào Suez, kiểm soát các mỏ dầu Trung Đông, cắt đường tiếp tế của Anh qua Ấn Độ Dương và buộc Anh phải ký hòa ước vì cạn kiệt tài nguyên, trước khi Đức mới quay sang đối phó Liên Xô ở thế đơn độc. Về chính trị và chủng tộc, nhà sử học Alexander Dallin cùng nhiều chuyên gia về Liên Xô cho rằng Đức đã tự tay phá hỏng cơ hội chiến thắng lớn nhất tại mặt trận phía Đông từ bên trong. Thay vì thực hiện chính sách tàn sát, nô dịch và phân biệt chủng tộc, Đức lẽ ra có thể đóng vai trò "lực lượng giải phóng" khỏi chế độ Stalin, hứa hẹn giải thể các nông trang tập thể, trao trả quyền sở hữu đất đai và hỗ trợ thành lập các nhà nước độc lập cho người Ukraine, Belarus và vùng Baltic. Theo hướng này, Đức có thể đã thu hút hàng triệu quân tình nguyện bản địa, như lực lượng của tướng Vlasov, chiến đấu chống lại Hồng quân, đồng thời triệt tiêu hoàn toàn phong trào du kích ở hậu phương. Về kinh tế và công nghiệp, nhà sử học kinh tế Richard Overy chỉ ra sự yếu kém kỳ lạ trong quản lý kinh tế của Đức giai đoạn 1939-1941. Do quá tự tin vào Blitzkrieg, Đức chỉ duy trì sản xuất công nghiệp ở mức hòa bình hoặc bán quân sự mãi cho đến năm 1943, khi Albert Speer lên nắm quyền, mới thực sự chuyển sang kinh tế chiến tranh tổng lực. Nếu Đức chuẩn hóa vũ khí, tối ưu hóa dây chuyền sản xuất quy mô lớn và động viên toàn bộ nền kinh tế ngay từ năm 1940 giống như Liên Xô và Mỹ đã làm, lượng xe tăng, máy bay và đạn dược của Đức giai đoạn 1941-1942 có thể tăng gấp đôi, đủ sức dứt điểm chiến dịch Moscow hoặc Stalingrad. Về tác chiến, nhà sử học quân sự David Glantz chỉ ra rằng nếu tháng 8/1941 Đức không rút Cụm Tập đoàn quân Thiết giáp số 2 xuống phía Nam đánh Kiev mà dồn toàn lực đánh thẳng vào Moscow trước khi mùa đông tới, việc mất Moscow, đầu mối giao thông đường sắt và trung tâm hành chính công nghiệp lớn nhất của Liên Xô, có thể đã làm tê liệt khả năng điều phối quân đội của Hồng quân, buộc Liên Xô phải rút lui sâu về phía sau dãy Ural và chấp nhận đình chiến. Các nhà nghiên cứu trung lập đi đến một kết luận chung là Đức Quốc xã không thể chọn những đường lối đúng đắn đó vì chính bản chất tư tưởng của họ. Để tranh thủ người dân Đông Âu, Đức phải từ bỏ học thuyết Lebensraum và tư tưởng người Aryan thượng đẳng. Để hoãn đánh Liên Xô, Hitler phải từ bỏ mục tiêu sống còn trong cả đời ông ta là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Để nhường quyền cho các tướng lĩnh đưa ra quyết định quân sự thuần túy, Hitler phải từ bỏ chế độ độc tài cuồng tín của chính mình. Nói cách khác, nếu thay đổi đường lối, Đức Quốc xã có thể đã không thua, nhưng nếu thay đổi những đường lối đó, chính quyền Berlin đã không còn là Đức Quốc xã nữa. ________________________________________

Nhận xét