Chiến tranh biên giới 79 không nên hiểu qá đơn giản như mọi người hay nghĩ.
Tiền căn
Trong chiến tranh chống Mỹ, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ cả Trung Quốc và Liên Xô. Hai nước cùng góp phần vào thắng lợi của Việt Nam, dù mức độ và hình thức viện trợ khác nhau.
Theo quan niệm “uống nước nhớ nguồn, nhận một giọt nước báo một dòng sông”, Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc đáng lẽ phải cố giữ quan hệ với cả hai. Khi Trung Quốc và Liên Xô trở thành đối thủ của nhau, nếu Việt Nam không thể hòa giải thì ít nhất cũng nên giữ vị trí tương đối trung lập, không biến sự lựa chọn của mình thành việc dựa vào một bên để đối đầu với bên kia.
Nhưng thực tế sau 1975 lại đi theo hướng khác.
Việt Nam ngày càng nghiêng về Liên Xô, quan hệ với Trung Quốc ngày càng xấu đi, Việt Nam gia nhập SEV, ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô năm 1978, đồng thời đưa quân vào Campuchia đánh Khmer Đỏ — lực lượng được Trung Quốc hậu thuẫn.
Vì vậy, nếu chỉ dùng thước đo đạo lý, Việt Nam quả thực ở thế đuối lý: một nước từng nhận sự giúp đỡ rất lớn từ cả hai bên lại chọn đứng hẳn về một bên trong cuộc đối đầu giữa hai bên.
Nhưng nếu chuyển sang lập trường chính trị thì hoàn toàn khác
Chính trị quốc tế không vận hành theo nguyên tắc “ai từng giúp mình thì mình phải đứng về phía người đó”.
Sau 1975, Việt Nam có những tính toán an ninh rất cụ thể:
Trung Quốc – Liên Xô đối đầu → Việt Nam buộc phải lựa chọn mức độ nghiêng về bên nào → Việt Nam chọn Liên Xô vì nhu cầu an ninh, kinh tế và đối trọng với Trung Quốc → Trung Quốc coi Việt Nam ngày càng trở thành một bộ phận trong hệ thống ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
Đặc biệt, việc Việt Nam đánh Khmer Đỏ và ký hiệp ước với Liên Xô khiến Bắc Kinh nhìn vấn đề không còn đơn thuần là “Việt Nam vô ơn”, mà là:
Một nước láng giềng từng thân thiện nay đang trở thành đối thủ được siêu cường đối địch hậu thuẫn.
Do đó Trung Quốc quyết định dùng chiến tranh năm 1979 để đánh Việt Nam, gây sức ép buộc Việt Nam phải trả giá cho lựa chọn chiến lược của mình, đồng thời thử giới hạn cam kết của Liên Xô.
Và phép thử đó cho thấy một điều rất rõ: Liên Xô hỗ trợ Việt Nam nhưng không trực tiếp đánh Trung Quốc. Liên Xô không biến cuộc chiến Việt–Trung thành chiến tranh Xô–Trung.
Vì vậy có thể chốt thành hai câu hoàn toàn khác nhau
Trên phương diện đạo lý:
Việt Nam đuối lý.
Đã nhận sự giúp đỡ lớn từ cả Trung Quốc và Liên Xô thì cách ứng xử đẹp nhất là giữ quan hệ với cả hai, hoặc ít nhất không dựa vào một bên để đối đầu với bên kia. Xét theo “uống nước nhớ nguồn”, việc Việt Nam nghiêng mạnh về Liên Xô và đối đầu với Trung Quốc khó có thể nói là trọn vẹn về đạo lý.
Trên phương diện chính trị:
Việt Nam có lý do để lựa chọn như vậy.
Việt Nam ưu tiên an ninh và lợi ích quốc gia trước mắt, lựa chọn Liên Xô làm chỗ dựa trong bối cảnh Trung–Xô đối đầu và quan hệ Việt–Trung đã xấu đi. Trung Quốc cũng hành động theo lợi ích chiến lược của mình khi tiến hành chiến tranh năm 1979.
Cho nên nếu chỉ đứng trên lập trường chính trị, không xét đạo lý, thì câu chuyện không phải “Việt Nam vô ơn nên Trung Quốc đánh”, mà là:
Việt Nam chọn phe → Trung Quốc coi đó là mối đe dọa chiến lược → Trung Quốc dùng chiến tranh để trừng phạt, kiềm chế Việt Nam và thử Liên Xô → Liên Xô hỗ trợ nhưng không trực tiếp tham chiến → Việt Nam tiếp tục dựa vào Liên Xô trong thập niên 1980 → về lâu dài Việt Nam rút ra bài học phải tự chủ và không đặt an ninh vào một cường quốc duy nhất.
Nhận xét
Đăng nhận xét