DÂN CHỦ CÁC NƯỚC HIỆN NAY TƯƠNG ĐƯƠNG PHƯƠNG TÂY NĂM NÀO

DÂN CHỦ CÁC NƯỚC HIỆN NAY TƯƠNG ĐƯƠNG PHƯƠNG TÂY NĂM NÀO Một cách để hình dung khoảng cách dân chủ giữa các nước là đặt câu hỏi: nếu lấy một nước phương Tây làm chuẩn, thì mức độ dân chủ về thể chế chính trị và tự do ngôn luận, báo chí của một quốc gia hiện nay gần với nước phương Tây đó vào khoảng năm nào. Đây không phải phép so sánh về mức sống, công nghệ hay quyền cá nhân trong đời sống thường nhật - những mặt này nhiều nước ngoài phương Tây hiện nay đã vượt xa phương Tây thế kỷ trước. Phép so sánh chỉ nhắm vào hai trục hẹp: mức độ cạnh tranh quyền lực chính trị thực chất, tức khả năng phe đối lập giành quyền lực thông qua bầu cử tự do và công bằng, và mức độ tự do ngôn luận, báo chí, tức khả năng chỉ trích chính quyền công khai mà không bị trừng phạt. Vì Mỹ và Anh, Pháp có tốc độ dân chủ hóa khác nhau ở từng giai đoạn, mốc quy đổi cho hai bên không phải lúc nào cũng trùng nhau với cùng một nước. Hai trục này cũng tương ứng với hai khái niệm giới nghiên cứu dân chủ học hay phân biệt: dân chủ điện tử, tức có bầu cử đa đảng cạnh tranh, và dân chủ tự do, tức thêm cả pháp quyền, báo chí độc lập và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Một nước có thể đạt dân chủ điện tử nhưng vẫn còn cách xa dân chủ tự do. Mỹ hiện nay được dùng làm một điểm đối chiếu riêng: so với chính lịch sử nước Mỹ, mức độ dân chủ hiện tại tương đương giai đoạn 1960-2020, tức toàn bộ thời kỳ sau khi Đạo luật Quyền bầu cử năm 1965 xóa bỏ các rào cản bầu cử mang tính phân biệt chủng tộc còn sót lại. So với Anh, Pháp thì tương đương khoảng 1970-2020. Nước Mỹ hiện nay vẫn thuộc nhóm dân chủ tự do cao trên bản đồ dân chủ toàn cầu. Tây Âu hiện nay là điểm chuẩn cao nhất trong khung so sánh này, tương đương chính nước Mỹ giai đoạn 1970-2020 và tương đương chính Tây Âu giai đoạn 1980-2020, tức giai đoạn các nền dân chủ nghị viện Tây Âu đã hoàn thiện phổ thông đầu phiếu, báo chí độc lập và luân phiên quyền lực ổn định qua nhiều thập niên liên tục. ________________________________________ TRUNG QUỐC, IRAN VÀ SAUDI ARABIA Việt Nam là nhà nước một đảng lãnh đạo toàn diện từ nhiều thập niên. Ứng cử viên độc lập về lý thuyết được phép tham gia bầu cử Quốc hội nhưng phe đối lập bị cấm trên thực tế, và tổ chức Freedom House xếp Việt Nam ở mức 20/100 điểm, thuộc nhóm không tự do, trong đó điểm về quyền chính trị chỉ đạt 4/40. Không có cạnh tranh quyền lực ở cấp quốc gia, báo chí độc lập gần như không tồn tại hợp pháp. Mức độ này gần với nước Mỹ vào khoảng 1910-1930 và gần với Anh, Pháp vào khoảng 1900-1920, xét trên khía cạnh ai thực sự được tham gia vào cạnh tranh chính trị chứ không phải bản thân cạnh tranh đảng phái có tồn tại hay không. Giai đoạn này ở Mỹ đã có cạnh tranh thực chất giữa hai đảng lớn và báo chí điều tra phát triển mạnh thời kỳ Tiến bộ, nhưng cử tri da đen ở miền Nam bị loại khỏi quá trình đó qua thuế bầu cử, kiểm tra trình độ đọc viết và bạo lực. Ở Anh, Công đảng khi đó đã nổi lên thành lực lượng đối lập lớn dù phần lớn nam giới mới có quyền bầu cử từ năm 1918 và phụ nữ chỉ có quyền ngang nam giới từ năm 1928. Ở Pháp, nền Đệ tam Cộng hòa tuy đã có phổ thông đầu phiếu nam giới từ năm 1848 và báo chí đa đảng sôi động, nhưng chính phủ thay đổi liên tục và bất ổn. Trung Quốc bị kiểm soát chặt hơn Việt Nam trên cả hai trục. Đảng Cộng sản Trung Quốc siết chặt bộ máy nhà nước, truyền thông, ngôn luận trên mạng, tôn giáo, đại học, doanh nghiệp và hội đoàn dân sự, và Freedom House chỉ cho Trung Quốc 9/100 điểm trong báo cáo 2025, thấp hơn nhiều so với Việt Nam. Vì vậy nếu chỉ xét riêng tự do chính trị, Trung Quốc hiện nay có thể còn thấp hơn mốc Mỹ 1900-1920, gần hơn với giai đoạn trước đó. So với Anh, Pháp thì gần khoảng 1890-1910, khi Anh vẫn giới hạn quyền bầu cử ở khoảng 60-65% nam giới trưởng thành theo Đạo luật cải cách năm 1884 và chưa có phổ thông đầu phiếu cho phụ nữ, còn Pháp tuy đã có phổ thông đầu phiếu nam giới từ năm 1848 nhưng nền chính trị của Đệ tam Cộng hòa giai đoạn này vẫn nhiều bất ổn và các chính phủ thay đổi thường xuyên. Iran có tổ chức bầu cử nhưng quyền lực tối cao nằm ở lãnh tụ tối cao và Hội đồng Giám hộ, hai thiết chế không do dân bầu trực tiếp và có quyền loại ứng cử viên trước khi bầu cử diễn ra, khiến lá phiếu phổ thông chỉ vận hành trong một khung đã bị giới hạn từ trước. Cấu trúc này khiến mức độ cạnh tranh chính trị thực chất của Iran gần với Mỹ khoảng 1910-1930 và Anh, Pháp khoảng 1900-1920, giai đoạn bầu cử đã tồn tại nhưng quyền lực thực tế vẫn bị các thiết chế truyền thống hoặc phi dân cử chi phối mạnh. Saudi Arabia là quân chủ tuyệt đối, không có bầu cử quốc gia cho các vị trí lãnh đạo then chốt và hầu như không tồn tại chính trị cạnh tranh ở cấp quốc gia. Trên cả hai mốc so sánh, mức độ này gần với các nước phương Tây khoảng thế kỷ 19, giai đoạn nghị viện Anh đã tồn tại từ lâu nhưng quyền bầu cử còn giới hạn theo tài sản và giới tính, trước khi các đạo luật cải cách liên tiếp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 mở rộng dần quyền bầu cử ra toàn bộ nam giới trưởng thành rồi đến phụ nữ. ________________________________________ THÁI LAN, SINGAPORE VÀ MALAYSIA: BẦU CỬ TỒN TẠI NHƯNG KHÓ LUÂN PHIÊN QUYỀN LỰC Thái Lan có lịch sử bầu cử xen kẽ nhiều lần đảo chính quân sự, gần đây nhất là các cuộc đảo chính năm 2006 và năm 2014, mỗi lần đều dẫn tới hiến pháp mới củng cố vai trò giám sát của quân đội đối với chính phủ dân cử. Chu kỳ bầu cử dân sự liên tục bị quân đội can thiệp và lật đổ khiến mức độ dân chủ hóa của Thái Lan gần với Mỹ khoảng 1940-1960 và Anh, Pháp khoảng 1930-1950, giai đoạn chế độ nghị viện phương Tây tuy đã định hình nhưng từng trải qua các cú sốc chính trị lớn đe dọa tính liên tục của nó. Singapore tổ chức bầu cử đa đảng thực chất, nhưng Đảng Hành động Nhân dân cầm quyền liên tục từ năm 1959 đến nay nhờ một hệ thống bầu cử, luật báo chí và luật phỉ báng tạo lợi thế rất lớn cho đảng cầm quyền, khiến báo chí trong nước gần như không có không gian chỉ trích chính phủ độc lập. Mức độ này gần với cả Mỹ và Anh, Pháp vào khoảng 1950-1970, giai đoạn bầu cử đã có thực chất nhưng một đảng hoặc liên minh vẫn thống trị kéo dài nhờ ưu thế thể chế và truyền thông. Malaysia có cạnh tranh chính trị rõ hơn Singapore, nhưng liên minh Mặt trận Dân tộc và tiền thân của nó cầm quyền liên tục từ khi độc lập năm 1957 cho đến khi lần đầu thất cử vào năm 2018, một giai đoạn cầm quyền kéo dài hiếm có với một nền dân chủ có bầu cử. Mức độ này cũng gần với cả Mỹ và Anh, Pháp vào khoảng 1950-1970, khi hệ thống đảng phái đã hình thành nhưng luân phiên quyền lực qua bầu cử còn hiếm. ________________________________________ INDONESIA, PHILIPPINES VÀ ẤN ĐỘ: DÂN CHỦ BẦU CỬ NHƯNG THỂ CHẾ CÒN YẾU Indonesia chuyển từ chế độ độc tài Trật tự Mới của Suharto sang bầu cử đa đảng cạnh tranh sau năm 1998, và từ đó đã có nhiều lần chuyển giao quyền lực hòa bình qua bầu cử. Tuy vậy tham nhũng thể chế, ảnh hưởng của các nhóm lợi ích địa phương và áp lực lên báo chí điều tra khiến chất lượng dân chủ còn thấp hơn phương Tây hiện đại. Mức độ này gần với Mỹ khoảng 1960-1980 và Anh, Pháp khoảng 1950-1970, giai đoạn dân chủ bầu cử đã tương đối rõ nhưng thể chế kiểm soát quyền lực và báo chí độc lập còn yếu hơn chuẩn hiện đại. Philippines có truyền thống báo chí khá tự do và cạnh tranh chính trị đa đảng lâu đời trong khu vực, nhưng nhà nước pháp quyền yếu, ảnh hưởng của các dòng họ chính trị địa phương lớn, và từng trải qua thiết quân luật dưới thời Ferdinand Marcos từ năm 1972 đến năm 1981. Mức độ dân chủ hóa của Philippines gần với Mỹ khoảng 1960-1980 và Anh, Pháp khoảng 1950-1970, tương tự Indonesia nhưng với báo chí tự do hơn đi kèm nhà nước pháp quyền yếu hơn. Ấn Độ có bầu cử cạnh tranh, đa đảng và thay đổi quyền lực trung ương qua lá phiếu ngay từ khi độc lập năm 1947, sớm hơn phần lớn các nước đang phát triển khác. Tuy vậy chất lượng thể chế, tính độc lập của báo chí và pháp quyền vẫn thấp hơn các nền dân chủ phương Tây hiện đại, đặc biệt trong hai thập niên gần đây khi nhiều tổ chức theo dõi quốc tế ghi nhận xu hướng thu hẹp không gian báo chí độc lập. Mức độ này gần với cả Mỹ và Anh, Pháp vào khoảng 1950-1970, khi bầu cử đa đảng đã vận hành nhưng tự do báo chí và chất lượng thể chế còn thấp hơn chuẩn hiện đại. ________________________________________ HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN VÀ NHẬT BẢN Hàn Quốc chuyển từ chế độ độc tài quân sự sang dân chủ bầu cử sau phong trào biểu tình toàn quốc tháng 6 năm 1987, dẫn tới sửa đổi hiến pháp và cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đầu tiên ngay cuối năm đó. Từ mốc này, thể chế cạnh tranh chính trị và báo chí độc lập của Hàn Quốc phát triển tương đối nhanh và hiện nay được xếp vào nhóm dân chủ tự do khá vững, đưa mức độ dân chủ hóa gần với Mỹ khoảng 1970-1990 và Anh, Pháp khoảng 1960-1980. Đài Loan dỡ bỏ thiết quân luật vào tháng 7 năm 1987 sau 38 năm áp dụng, sau đó trải qua cải cách hiến pháp và tổ chức cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đa đảng đầu tiên vào năm 1996. Từ đó Đài Loan liên tục được các tổ chức theo dõi quốc tế xếp vào nhóm dân chủ tự do hàng đầu châu Á, với báo chí độc lập mạnh và nhiều lần chuyển giao quyền lực hòa bình giữa các đảng, mức độ dân chủ hóa tương tự Hàn Quốc, gần với Mỹ khoảng 1970-1990 và Anh, Pháp khoảng 1960-1980. Nhật Bản có nền dân chủ nghị viện và báo chí tương đối tự do từ sau Thế chiến thứ hai, đạt mức dân chủ tự do khá hoàn chỉnh gần với Mỹ khoảng 1970-1990 và Anh, Pháp khoảng 1960-1980. Điểm khác biệt là Đảng Dân chủ Tự do gần như cầm quyền liên tục từ năm 1955 đến nay, chỉ mất quyền trong thời gian ngắn vào năm 1993 và giai đoạn 2009-2012, nên dù thể chế cạnh tranh và tự do báo chí đạt mức cao, tính luân phiên quyền lực thực chất giữa các đảng vẫn thấp hơn nhiều nền dân chủ phương Tây điển hình cùng mốc thời gian. ________________________________________ MỐC CHUẨN PHƯƠNG TÂY CŨNG KHÔNG CỐ ĐỊNH Ngay bản thân các nước phương Tây cũng không đứng yên ở một điểm chuẩn cố định. Nước Mỹ chỉ đạt phổ thông đầu phiếu về mặt luật định khi Tu chính án thứ 19 được phê chuẩn năm 1920, trao quyền bầu cử cho phụ nữ, nhưng cử tri da đen ở miền Nam vẫn bị tước quyền bầu cử trên thực tế qua thuế bầu cử, kiểm tra trình độ đọc viết và bạo lực cho tới khi Đạo luật Quyền bầu cử năm 1965 được thông qua. Nước Anh mở rộng quyền bầu cử cho phần lớn nam giới trưởng thành và một bộ phận phụ nữ trên 30 tuổi qua Đạo luật Đại diện Nhân dân năm 1918, nhưng phải đến Đạo luật Phổ thông đầu phiếu năm 1928 phụ nữ mới có quyền bầu cử ngang nam giới. Vì vậy khi nói một nước nào đó hiện nay "tương đương phương Tây năm 1920" hay "năm 1930", điều đó chỉ mô tả mức độ cạnh tranh quyền lực chính trị và tự do báo chí ở một lát cắt hẹp, không có nghĩa là hai xã hội giống nhau về quyền con người hay mức sống. Nhiều nước như Việt Nam hiện nay có mức sống, hạ tầng, giáo dục, y tế và quyền cá nhân trong đời sống thường nhật vượt xa phương Tây đầu thế kỷ 20, nhưng về cạnh tranh quyền lực chính trị và tự do báo chí lại tương đương hoặc thấp hơn giai đoạn đó, cho thấy hiện đại hóa kinh tế xã hội và dân chủ hóa chính trị không nhất thiết đi cùng nhau. ________________________________________ Ảnh: 1. “Liberté de la presse”: Đây là hình ảnh trong bối cảnh báo chí và các ấn phẩm chính trị phát triển mạnh sau năm 1789. Cơ sở pháp lý quan trọng là Điều 11 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, công bố quyền “tự do truyền đạt tư tưởng và ý kiến” cũng như quyền in ấn ý kiến của mình. 2. Ảnh về Cách mạng 1848 và sự bùng nổ báo chí ở châu âu, minh họa mối liên hệ giữa phong trào quần chúng, yêu cầu hiến pháp và đòi tự do báo chí.

Nhận xét