MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY (phần 2) - Th.s Hoàng Văn Thuận
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY
(Phần 2)
Th. S Hoàng Văn Thuận
Mở đầu: Trong phần trình bày trước ta thấy được phần nhỏ các vấn đề tiêu cực còn tồn tại ở Phật giáo Việt Nam hiện nay. Trong sự phát triển tất yếu, cái thái quá và bất cập dường như đi song song để tạo thành những màu sắc Phật giáo. Sự đối lập giữa hai mặt sáng và tối của giáo pháp là hệ quả sự phát triển nhanh chóng trong thời đại mới – thời kỳ lợi ích kinh tế lên ngôi .Đây cũng là giai đoạn thoái hóa một số khía cạnh của việc tìm hiểu và tu hành Phật giáo. Bằng phương pháp khảo sát, thực tiễn, một lần nữa tìm hiểu thêm các vấn đề, hiện tượng Phật giáo hiện nay qua sự phân tích và khái quát hóa.
Từ khóa: vấn đề Phật giáo; Phật giáo Việt Nam; nghiên cứu Phật giáo.
Vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu Phật giáo Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, các nghiên cứu Phật giáo chưa“song song với tu tập Phật giáo”, chúng ta đang áp dụng lý thuyết Phật giáo, phát triển tri thức trên những cái có sẵn – lý thuyết và chưa có sự thực nghiệm. Việc này dẫn đến tình trạng “có Huệ mà không có Định”, tức không có cách gì để kiểm tra độ chính xác của lý thuyết, nghiên cứu hoặc kinh sách, giáo pháp Phật giáo được đưa ra.
Nghiên cứu lý thuyết nên ở mức độ nào đó, vì dung hợp Tam giáo với tín ngưỡng văn hóa Việt Nam dẫn tới sự đồng bộ, vay mượn hoặc lấy phương pháp của tôn giáo khác tạo thành hệ thống tôn giáo của mình. Mỗi thời kỳ Phật giáo Việt Nam luôn có sự bổ sung lý luận và phương pháp – đây là tính năng động của lý thuyết. Nhưng hạn chế là mỗi trường phái có cách nhìn khác nhau cùng một vấn đề, và phụ thuộc vào vị đứng đầu nên còn mang kinh nghiệm cá nhân trong đó. Ở khía cạnh khác lý thuyết Phật giáo chỉ là “phần ngọn”, mà phần gốc nằm ở sự chăm chỉ, cần cù trong tu hành, hay nói cách khác từ quá trình tu tập ta trở lại xem xét, nghiên cứu một quan điểm lý thuyết Phật giáo, kiểm chứng được chính xác nhất.
Cái hay của nghiên cứu lý thuyết là sử dụng tính mềm dẻo, năng động để ứng dụng vào cuộc sống, tu tập cho phù hợp nhất. Cái đọng lại là những triết lý, phương pháp ứng dụng, châm ngôn, bài học.của Phật giáo để răn dạy, truyền bá tư tưởng tốt đẹp cho con người.
Thứ hai, nghiên cứu Phật giáo đang bị lạm dụng ở nhiều mục đích khác nhau, nhất là việc bị “thương mại hóa” lừa đảo, lợi dụng để trục lợi cá nhân trong cả mua bán kinh sách, tài liệu hoặc sử dụng để mưu đồ nào đó – nhất là dụ dỗ, lôi kéo người khác. Bởi nghiên cứu nào ở mức đủ lớn thì có cơ hội hình thành hệ tư tưởng mới, khác hoặc sử dụng để tạo nên một phái Phật giáo riêng.
Thứ ba, Phật giáo tự đa dạng hóa hay chúng ta đa dạng hóa Phật giáo với nhiều pháp môn , khía cạnh Phật giáo đa dạng hóa ở Việt Nam với nhiều tông phái, mỗi địa phương, dân tộc biến đổi cho phù hợp trong các hoàn cảnh lịch sử, đó là Phật giáo tự đa dạng hóa kết hợp yếu tố “Con người – Phật giáo” luôn đi đôi với nhau. Tuy nhiên việc lợi dụng sự đa dạng của Phật giáo, tạo nên những hiện tượng đi ngược lại giáo lý, nguyên tắc, biến tướng theo nhiều chiều hướng khác nhau. Sự hình thành tự phát các trường phái, tông phái nhưng hướng đi, mục đích chính lại là lôi kéo, thương mại tức đa dạng hóa để dễ thương mại hóa, thần bí, thần thánh hóa. Hoặc tự quảng bá “thương hiệu Phật giáo” nhằm lôi kéo người khác theo, điển hình là việc Pháp luân công mang danh nghĩa Phật giáo đã lôi kéo người khác tham gia và làm những việc bất chính trái với kinh điểm,giáo lý Phật giáo đưa ra. Đối với các tu sĩ Phật giáo thì vốn dĩ Phật giáo không cần phải “khoe khoang” hay “quảng cáo” chính mình, vì “quảng cáo” chỉ dành cho “hàng hóa” mà thôi. Thực trạng đa dạng hóa lại khiến Phật giáo bị thoái hóa ở khía cạnh tiêu cực trở thành vấn nạn trong đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay.
Thứ tư, chúng ta đang sử dụng ngôn ngữ hàn lâm, chuyên ngành, hay nặng kinh sách Phật giáo, làm cho một số khái niệm, quan điểm mang tính khó hiểu, nặng tôn giáo, thần bí hóa, rất khó gần với người đọc, tìm hiểu Phật giáo trong bước đầu. Tất nhiên, việc nghiên cứu bắt buộc sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn, nhưng sai lầm khi cho rằng: càng sử dụng ngôn ngữ “đao to búa lớn” là chứng tỏ ta đây am hiểu Phật học, hơn người hoặc có họ Phật đàng hoàng,…của người truyền tải, nghiên cứu Phật giáo. Vì vậy, cần phải đơn giản hóa ngôn ngữ Phật giáo để trở nên dễ hiểu, tiếp thu, học tập Phật pháp của người dân trở nên dễ dàng hơn.
Các vấn đề liên quan tu hành Phật giáo Việt Nam hiện nay
Tu hành là con đường duy nhất để đạt được sự giải thoát – mục tiêu cuối cùng và chính đáng nhất của tu sĩ Phật giáo. Tuy nhiên tu tập Phật giáo ở Việt Nam hiện nay đang bị phân chia, không có sự thống nhất, mất hẳn cốt lõi tạo thành nhiều mặt trận đấu tranh tư tưởng, chiến tranh tôn giáo hoặc cực đoan hóa tôn giáo.
Thứ nhất, chưa hiểu và áp dụng đúng các khái niệm cơ bản trong tu hành Phật giáo vào cuộc sống và tu tập. Tình trạng mông lung, ăn theo, nói theo người khác các khái niệm, tình trạng được mất của việc học và áp dụng là rất xa vời. Đó là những khái niệm như: vô thường, vô ngã, Niết bàn, Bát Nhã,…và rất nhiều khái niệm khác
Đầu tiên, vô thường như phương pháp tâm lý và là một con đường – hướng tu hành ráo riết, có thể xem như một pháp môn Phật giáo. Tu sĩ đối diện “vô thường” thật tệ hại và trở ngại như đứng trước một sự chia ly của người thân thì lại buồn phiền; sự ra đi của người “thầy” lại tương tự là khóc than, một đồ vật hỏng hóc đau khổ không kém; trước các mất mát cuộc sống tu sĩ bị “sốc tâm lý” dẫn đến các bệnh tinh thần. Vì cố gạt bỏ không chấp nhận sự thật, tạo nên bệnh “tính đổ thừa” và “nói một đằng làm một nẻo”, “đổ lỗi cho hoàn cảnh”, đổ thừa cho chính mình hoặc người khác. Tu sĩ chưa áp dụng vô thường vào thực tiễn và tu tập để nhìn nhận các sự việc, hiện tượng bình thản hơn, không còn nỗi sợ hãi, cú sốc tinh thần nữa.
Tóm lại, khi coi vô thường là những điều “bình thường”, dung dị nhất trong cuộc sống, dù muốn hay không vẫn phải nhìn thẳng và đối diện các vấn đề.
Tiếp theo, Vô ngã – một phạm trù tạo nên sự ảo tưởng rất lớn của giới tu sĩ, cái khó hiểu nhất, không giải thích dễ dàng bằng ngôn ngữ được. Phạm trù có thể so sánh với “tham dục”, khi cố gắng dồn nén nó lại – ngủ ngầm và sẵn sàng bùng nổ với năng lượng mạnh mẽ hơn lúc đầu, cái gốc rễ khó bứt nhất. Cái “ngã” hay cái “ta” cái “tôi” rất lớn đang bị nhầm lẫn giữa chốn thanh tịnh cửa Chùa, cửa Thiền là đã hết “ngã”. Việc đánh tráo khái niệm nên dẫn tới những hệ lụy, tu sĩ càng tu càng xuất hiện cái tôi rất lớn, ta đây là đã tu hành hơn người, và cái tôi là quá tôn sùng chữ “thầy” vẫn được nhắc gọi và xưng hô không ngượng ngùng. Vô ngã sẽ trở thành hiện thực khi ta thực hiện nghiêm khắc giới luật, nghiêm túc tu hành, nhưng các tu sĩ hiện nay chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài vì họ “khoác áo tu sĩ nhưng không làm việc tu sĩ”.
Từ đó xuất hiện “nghề tu sĩ” lạm dụng thân phận, danh nghĩa để trục lợi cá nhân như thu tiền bất chính của người dân, ăn chơi hưởng lạc ngay chính nơi thanh tịnh để đáp ứng những cái “ngã” của tu sĩ Phật giáo Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, vấn đề liên quan cúng dường và “sống nghèo” của giới tu sĩ thì việc chấp nhận nghèo là tất nhiên, sẵn sàng nghèo – vật chất để giàu về phước báu. Nhưng tu sĩ hiện nay mắc bệnh giả nghèo, ăn mặc giản dị nhưng vẫn thực hiện các nghi lễ cúng bái kiếm tiền hoặc thu lợi từ thiện hay cúng dường,+ bây giờ “bần tăng” chỉ là hình thức, mà nội dung của họ trở thành “phú tăng” rồi. Ở một góc nhỏ có hiện tượng cúng dường một cách lố bịch, thái quá do thật sự không hiểu được ý nghĩa của nó, hệ quả là hư cả trò (người cúng dường) lẫn hư cả thầy, sư phụ (người nhận). Với nguồn lợi (tự nhiên) thì lòng Tham con người sẽ trỗi dậy kéo theo các tật khác như Sân, Si là các mắt xích đi cùng nhau, một số tu sĩ sẽ bỏ việc tu hành vất vả, nghèo, thoái hóa sang đi lừa tiền thiên hạ. Sự mù quáng của người cúng dường và sự “đồng ý thầm” của tu sĩ là nguyên nhân dẫn đến thương mại hóa tu tập Phật giáo nói chung. Cúng dường sẽ là đúng đắn cho những tu sĩ thực sự và đúng nhu cầu của người đó, về thực chất thì do sự thiếu hiểu biết gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực.
Thứ ba, thuyết Pháp đang bị lạm dụng
Thuyết pháp là một hình thức diễn giải hoặc đơn giản hóa các vấn đề nào đó của Phật giáo đến gần hơn với công chúng. Tuy nhiên, song song tích cực mà nó đạt được phải xét đến mặt tiêu cực khi nó bị lạm dụng quá nhiều. Trước hết là xét việc thuyết pháp này có nên hay không; có bị lặp lại nội dung hay nội dung quá cũ, cái cần truyền đạt là gì; những phát hiện mới; đối tượng có phù hợp để thuyết pháp hoặc thời điểm này là phù hợp để thuyết giảng Phật pháp hay chưa, và muôn vàn tình huống cần phải xem xét thật kỹ càng trước khi thuyết pháp. Nếu không bị rơi vào tình trạng “thuyết pháp không đúng thời” nó còn nguy hiểm hơn là không thuyết gì, vì là mặt truyền đạt Phật pháp vừa là tâm linh Phật giáo ảnh hưởng rất lớn đến các cõi giới xung quanh.
Thuyết pháp có thể bị lợi dụng để xuyên tạc Phật pháp, tức tình trạng “bắt kinh nói theo ý mình hoặc bắt Phật nói theo ý mình”, là không hiểu được kinh sách mà thuyết hoặc ai hiểu sao thì hiểu, hoặc mang tính giải trí vì lạm dụng nó để nói việc đời, giao lưu các nội dung nằm ngoài chương trình cần thiết. Đáng nói là về trình độ người thuyết pháp không có đủ nên không thể kiểm chứng được nội dung mình thuyết pháp đúng hay sai; người nghe có hiểu không; nó sát với nhu cầu thực tiễn hay không; hay chỉ là một việc cần làm để đánh bóng danh tiếng, quảng bá cá nhân, tổ chức nào đó.
Thuyết pháp bị lạm dụng ở việc nhiều cá nhân, tổ chức sử dụng cho việc mưu cầu bất chính nhằm hướng tới tư lợi cá nhân, mang vỏ bọc của truyền bá Phật pháp nhưng nội dung chính lại là việc khác. Hiện tượng này cũng khó kiểm soát được vì ự tự nguyện của người tìm hiểu, học Phật pháp. Điển hình là những hình thức “tự thuyết” của Pháp luân công hay một số môn phái Phật giáo khác
.
Thứ tư, tu tập Phật giáo một cách máy móc, hình thức và chưa củng cố được sức mạnh tu tập. Điển hình nhất của Phật giáo là Thiền đã thành một chủ đề tranh cãi khi những trường phái đã tiếp tục khẳng định: tông phái mình mới là chánh pháp và người học Thiền bị trở ngại là không biết tập phương pháp thiền nào, tình trạng rối loạn pháp môn, bị tung hỏa mù xảy ra. Hầu hết các tu sĩ Phật giáo chưa “tu xong” nên không thể truyền đạt lại cho người đi sau phương pháp thiền nào là đúng hướng.
Thiền Phật giáo hiện nay là sự pha tạp các phương pháp khác nhau, không thống nhất cách thực hành, mang tính riêng các trường phái, chùa chiền, những người hướng dẫn nào đó. Còn người học lại tìm cách tập tất cả xem loại nào hợp với mình, cách nào dễ, nhanh nhất cùng hàng ngàn câu hỏi liên quan.
Vì chưa thống nhất nên sức mạnh tu hành giảm sút, không liên kết về tâm linh, tinh thần Phật giáo, mang tính đơn lẻ cá nhân hơn là mang tính tổ chức.
Bởi từ đầu Phật giáo Việt Nam đã có sự chia rẽ nội bộ, bè phái hoặc chê bai nhau ở mức âm thầm nào đó.
Sức mạnh tu tập bị giảm sút còn do giới luật bị xem thường, không chú trọng giới – định – huệ, tệ hại hơn khi tu sĩ thoái hóa biến chất có lối sống chạy theo, đua đòi của thời đại, và giới luật là cái quyết định một người là tu sĩ hay chỉ là những kẻ chợ búa. Vì vậy, vấn đề giới luật đáng bị lên án khi chúng ta không thật sự nghiêm túc hoặc đổ thừa cho tất cả, giới luật bị lung lay, tu sĩ bị vấp ngã trên đường tu tập.
Từ nguyên nhân nhỏ này đã làm xuất hiện câu chuyện tu tập mà không được gì, hoặc mang hình thức tu tập để đánh bóng cá nhân mà thôi .
Thứ năm, Phật giáo Việt Nam chưa có nguyên tắc bình đẳng trong tìm hiểu, nghiên cứu và trong tu hành. Tức câu chuyện “bình đẳng các pháp” dừng lại ở mức hình thức truyền miệng, xa rời thực tế, Phật giáo nước ta vẫn mang tính giai cấp. Đó là tu sĩ Phật giáo tự phong là “bề trên” được người ta tôn sùng, vẫn nặng “cái tôi” trong xưng hô, thói khinh thường người khác – hơn người; hỏi pháp thì vẫn có sự phân biệt trên – dưới, cùng nhiều hiện tượng phân biệt của giới tu sĩ, cư sĩ, tăng, ni hay Phật tử Phật giáo hiện nay. Vì vậy, ngoài sự đơn giản hóa thì cần áp dụng thực tế hơn những nguyên tắc bình đẳng các pháp từ thời ngài Thích Ca để lại cho chúng ta.
Cuối cùng, cần phải nói thêm Phật giáo Việt Nam đang bị thương mại hóa, nhiều tổ chức, cá nhân cố tình xuyên tạc, cổ xúy những cái tiêu cực, không dám lên án các hành vi lạm dụng Phật giáo để mưu đồ lợi ích nào đó. Tôn giáo – Phật giáo đã được sử dụng mưu đồ củng cố quyền lực, tư lợi, nhưng cái quan trọng nhất là sự thiếu hiểu biết, sùng bái một cách mù quáng, cực đoan, tôn giáo – Phật giáo không có lỗi, lỗi ở chúng ta thiếu hiểu biết .
Kết luận
Việc nghiên cứu và tìm hiểu Phật giáo Việt Nam hiện nay cần phải kỹ càng, tự thân, tích cực hơn nữa để không rơi vào những thái cực của sự biến đổi, chạy theo lợi ích riêng. Để rồi vô tình đưa Phật giáo thành vấn nạn thương mại hóa các mặt đến những mưa đồ bất chính của sự sùng bái hư ảo trong cuộc sống hiện nay.
Phật giáo hiện đại có thể bị chúng ta tàn phá bởi thiếu hiểu biết hoặc do mâu thuẫn và cực đoan hóa tôn giáo ở nước ta. Việc cấp thiết của chúng ta là phải nghiêm túc hơn trong các vấn đề liên quan đến Phật giáo.
Việc phân tích các hiện tượng mà chúng tôi đã nêu ra là một số mặt nổi của Phật giáo Việt Nam mà thôi. Còn những vấn đề khác, những hiện tượng bí ẩn tất nhiên những tiêu cực sẽ có ngày được bày dưới ánh sáng Phật pháp.
Nhận xét
Đăng nhận xét