VÌ SAO MỘT SỐ NỀN VĂN HÓA DỄ DUNG THỨ CHO THAM NHŨNG
Cùng một hành vi phạm luật, có nơi xã hội phẫn nộ và đòi trừng phạt ngay lập tức, có nơi lại chỉ nhìn bằng ánh mắt thông cảm, thậm chí ngưỡng mộ. Một ví dụ gần đây là vụ cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình (Hà Nội) Nguyễn Thị Bình bị tòa sơ thẩm tuyên 3 năm tù vì thu tiền dạy thêm vượt mức trần quy định, dù toàn bộ số tiền được chi trả cho giáo viên đứng lớp và phụ huynh từ chối nhận mình là bị hại - phản ánh trên mạng xã hội cho thấy nhiều người thông cảm cho bà thay vì lên án như một vụ tham nhũng thông thường. Khoa học xã hội đã đo lường được sự khác biệt này và xác định nó xuất phát từ những cơ chế vận hành xã hội, tâm lý và thể chế khác nhau.
________________________________________
KHUNG LÝ THUYẾT VĂN HÓA VỀ MỨC ĐỘ KHOAN DUNG VỚI THAM NHŨNG
Khảo sát Giá trị Thế giới (World Values Survey) của Ronald Inglehart và Christian Welzel chia các nền văn hóa theo hai trục: giá trị sinh tồn và giá trị tự biểu đạt. Ở những khu vực ưu tiên giá trị sinh tồn như nhiều nước Nam Mỹ, Đông Nam Á, Đông Âu, an toàn kinh tế của bản thân và gia đình được đặt lên hàng đầu. Khi thể chế nhà nước vận hành chưa hiệu quả hoặc thiếu an sinh, việc lách luật, hối lộ hay dựa vào mối quan hệ quen biết - như guanxi ở Trung Quốc, jeitinho ở Brazil, compadrazgo ở Nam Mỹ - được xã hội coi là công cụ sinh tồn thực dụng. Ngược lại, Bắc Âu xếp rất cao ở giá trị tự biểu đạt và độ tin cậy thể chế, nên khi nhu cầu căn bản đã được nhà nước bảo đảm minh bạch, hành vi lách luật bị coi là sự tham lam vô căn cứ và mức độ khoan dung với nó gần như bằng 0.
Nghiên cứu chiều kích văn hóa của Geert Hofstede bổ sung hai chỉ số khác. Thứ nhất là chủ nghĩa tập thể so với chủ nghĩa cá nhân. Các xã hội Nam Mỹ, Châu Á, Nam Âu có tính tập thể cao, luật pháp thường đứng sau nghĩa vụ đối với nhóm trong như gia đình, họ hàng, bạn bè, nên một người vi phạm luật để giúp đỡ người thân dễ được xã hội cảm thông vì hành động đó phù hợp chuẩn mực trung thành nhóm. Bắc Âu mang tính cá nhân cao, quyền lợi và nghĩa vụ áp đặt bình đẳng lên từng người bất kể quen hay lạ, nên hành vi nâng đỡ người quen bị coi là ưu ái bất hợp pháp. Thứ hai là chỉ số khoảng cách quyền lực, sẽ được phân tích riêng ở phần sau vì đây là yếu tố giải thích trực tiếp nhất thái độ của công chúng đối với sai phạm của giới cầm quyền.
________________________________________
CƠ CHẾ TÂM LÝ CÁ NHÂN VÀ LÒNG TIN XÃ HỘI CỦNG CỐ SỰ DUNG THỨ
Nhà kinh tế học hành vi Dan Ariely, cùng các cộng sự Francesca Gino và Shahar Ayal, qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng con người dễ tha thứ cho hành vi gian dối hoặc lách luật nếu vi phạm đã trở thành chuẩn mực thực tế trong cộng đồng, khiến não bộ xã hội tự động bình thường hóa nó để giảm sự áy náy đạo đức. Nhóm nghiên cứu này cũng mô tả hiện tượng có thể gọi là gian dối vị xã hội, tức khi một hành vi sai luật như trốn thuế nhỏ hay chạy án cho người thân được thực hiện vì lợi ích gia đình, nó thường được nhìn nhận bằng sự thấu hiểu thay vì lên án.
Nhà nghiên cứu Bo Rothstein tại Đại học Gothenburg mô tả một vòng luẩn quẩn giữa lòng tin xã hội và tham nhũng, thường được gọi ngắn gọn là bẫy lòng tin xã hội. Ở nơi lòng tin xã hội cao như Bắc Âu, người dân tin rằng đa số tuân thủ pháp luật nên kẻ vi phạm bị coi là ngoại lệ xấu cần trừng phạt. Ở nơi lòng tin xã hội thấp, khi người dân tin rằng nếu mình không lách luật thì người khác cũng sẽ lách và giành phần hơn, việc vi phạm không còn bị nhìn nhận là tha hóa đạo đức mà là phản ứng hợp lý trong một hệ thống không hoàn hảo, khiến họ dễ thông cảm khi thấy người khác cũng làm tương tự.
________________________________________
KHOẢNG CÁCH QUYỀN LỰC VÀ SỰ NGƯỠNG MỘ KHÔN RANH ĐỐI VỚI SAI PHẠM CỦA GIỚI CẦM QUYỀN
Chỉ số khoảng cách quyền lực (Power Distance Index) của Hofstede không đo mức độ quyền lực thực tế của một chính phủ, mà đo mức độ những người ít quyền lực hơn kỳ vọng và chấp nhận sự phân bổ quyền lực bất bình đẳng. Ở các xã hội có chỉ số này cao như Nam Mỹ, Nam Âu, nhiều nước Châu Á, xã hội được xem là vận hành theo trật tự phân cấp tự nhiên, quyền lực đi kèm đặc quyền, nên việc người ở tầng lớp trên tận dụng vị thế để hưởng lợi riêng được coi là phần thưởng nghiễm nhiên cho địa vị của họ. Người dân dễ rơi vào tâm lý bất lực tập thể, cho rằng phản đối cũng không thay đổi được gì, nên sai phạm của quan chức được tiếp nhận với thái độ thỏa hiệp kiểu ở vị trí đó ai cũng làm vậy. Mối quan hệ giữa kẻ mạnh và người yếu ở nhiều nơi còn mang tính bảo trợ, khiến người dân tìm kiếm một chỗ dựa quyền lực và sẵn sàng dung dưỡng sai phạm của người bảo trợ miễn vẫn được giúp đỡ khi cần.
Ở các xã hội có chỉ số khoảng cách quyền lực thấp như Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, quyền lực chỉ mang tính chức năng, một sự phân công lao động chứ không đại diện cho đặc quyền đạo đức. Mọi cá nhân, dù là nguyên thủ quốc gia hay công nhân quét rác, đều đứng bình đẳng trước luật lệ, nên khi một quan chức lạm quyền, đó bị coi là sự xúc phạm trực tiếp đến khế ước xã hội.
Sự khác biệt này thể hiện rõ qua các vụ việc thực tế. Năm 1995, Phó Thủ tướng Thụy Điển Mona Sahlin bị phát hiện dùng thẻ tín dụng của chính phủ để chi tiêu cá nhân, trong đó có hai thỏi sô-cô-la Toblerone, với tổng giá trị khoảng 53.174 kronor Thụy Điển. Dù sau đó bà hoàn trả toàn bộ số tiền cộng thêm 15.000 kronor, áp lực dư luận về tính giải trình vẫn buộc bà phải rút khỏi cuộc đua kế nhiệm thủ tướng và từ chức. Bà quay lại nội các từ năm 1998, tiếp tục giữ nhiều ghế bộ trưởng cho tới năm 2006, trước khi được bầu làm lãnh đạo đảng Dân chủ Xã hội năm 2007, 12 năm sau vụ bê bối.
Ngược lại, ở Ý, cựu Thủ tướng Silvio Berlusconi dính hàng loạt bê bối tài chính, trốn thuế và đời tư trong nhiều năm nhưng vẫn trúng cử và giữ quyền lực qua nhiều nhiệm kỳ, một phần vì văn hóa Ý có khái niệm furbo, chỉ sự khôn ranh lách luật được một bộ phận cử tri ngưỡng mộ. Một nghiên cứu định lượng về hành vi bỏ phiếu cho Berlusconi cho thấy ở những nhóm xã hội mà chuẩn mực đồng trang lứa coi việc lách luật là chấp nhận được, khả năng cử tri ủng hộ ông tăng lên rõ rệt.
Tại Brazil và Argentina, nhiều chính khách dính cáo buộc tham nhũng diện rộng, như trong đại án Lava Jato, vẫn giữ được lượng cử tri trung thành đông đảo theo tâm lý được diễn đạt bằng câu "rouba mas faz", tức có ăn nhưng có làm. Một khảo sát định lượng tại Brazil cho thấy khoảng 7% cử tri sẵn sàng bầu lại một chính khách rất tham nhũng nếu người đó làm việc hiệu quả, và 24% chấp nhận tham nhũng quy mô nhỏ nếu đi kèm công trình, lợi ích cụ thể cho cộng đồng.
Khái niệm furbo vừa nêu ở trường hợp Berlusconi không phải hiện tượng riêng lẻ mà nằm trong một cơ chế văn hóa rộng hơn. Ở nhiều xã hội mà hệ thống pháp luật phức tạp, quan liêu hoặc thực thi không nghiêm, người dân hình thành niềm tin rằng nếu tuân thủ đầy đủ quy định thì mình sẽ luôn là người chịu thiệt. Từ đó, năng lực lách hệ thống - tìm kẽ hở pháp lý, quen biết đúng người, hối lộ đúng chỗ - được tôn vinh như biểu hiện của sự thông minh và sành sỏi, thể hiện qua các khái niệm văn hóa như furbo ở Ý hay viveza criolla ở Nam Mỹ. Khi một quan chức lợi dụng chức quyền để làm giàu, thay vì phẫn nộ, một bộ phận công chúng lại nhìn họ như người biết xoay xở, người chiến thắng trong một trò chơi mà ai cũng đang tìm cách ăn gian, khiến sự lên án đạo đức bị thay bằng thái độ ngưỡng mộ ngầm.
Song song đó là tâm lý thực dụng chính trị coi tham nhũng như dầu bôi trơn cho bộ máy hành chính trì trệ. Khi không có hối lộ hay hoa hồng, người dân nhận ra các dự án hạ tầng sẽ mãi nằm trên giấy, nên họ đặt lên bàn cân giữa một chính khách sạch sẽ nhưng bất lực với một chính khách tham nhũng nhưng được việc, và trong bối cảnh nguồn lực hạn chế cùng niềm tin thể chế thấp, không ít cử tri chọn phương án thứ hai. Hai tâm lý này cộng hưởng tạo thành một vòng xoáy tự củng cố: sự khôn ranh được ngưỡng mộ và tham nhũng được chấp nhận như phí vận hành khiến chính khách mất động lực cải cách, người làm việc nghiêm túc bị coi là ngốc nghếch, còn xã hội dần mất niềm tin vào công lý khi chỉ những kẻ đủ quyền, đủ tiền và đủ sành sỏi mới luôn chiến thắng.
________________________________________
ẢO TƯỞNG "CẢ THẾ GIỚI ĐỀU THAM NHŨNG NHƯ NHAU"
Ở nhiều quốc gia tham nhũng cao, tồn tại phổ biến niềm tin rằng nơi nào trên thế giới cũng tham nhũng như nhau, chỉ khác là các nước giàu che giấu giỏi hơn. Giới nghiên cứu gọi hiện tượng này là chủ nghĩa hoài nghi về tham nhũng. Nếu thừa nhận nước mình bị tham nhũng tàn phá còn nước khác liêm chính hơn, người dân phải đối mặt cảm giác bất lực và kém cỏi về thể chế, nên niềm tin rằng cả thế giới đều thối nát như nhau giúp giảm bớt sự bức bách nội tâm và hợp thức hóa việc chấp nhận thực tại.
Nghiên cứu của Mishler và Rose năm 2001 về nhận thức công chúng tại các nước hậu Xô Viết và Đông Âu chỉ ra một lỗi nhận thức phổ biến: người dân ở các nước thể chế yếu thường đánh đồng việc một bê bối bị báo chí phanh phui ở nước phát triển là bằng chứng cho thấy nước đó cũng tham nhũng tương tự. Họ không nhận ra sự khác biệt cốt lõi là ở nước phát triển hệ thống tự sửa sai và phơi bày vi phạm, còn ở nước họ tham nhũng vận hành ngầm và thành hệ thống mà không ai xử lý được, tức là nhầm lẫn giữa mức độ minh bạch trong việc phơi bày sai phạm với mức độ nghiêm trọng thực tế của tham nhũng.
Cơ chế này còn được khuếch đại bằng thủ pháp truyền thông thường gọi là ngụy biện tương đương giả tạo hay whataboutism, khi giới cầm quyền hoặc truyền thông địa phương lặp lại thông điệp rằng phương Tây cũng tham nhũng đầy, chỉ là họ vận động hành lang và che giấu tinh vi hơn, khiến công chúng đánh đồng hành vi vận động hành lang có kiểm soát với hối lộ trắng trợn. Tổ chức Minh bạch Quốc tế khi phân tích Chỉ số Nhận thức Tham nhũng cũng ghi nhận một vòng lặp tâm lý tương tự: khi người dân tin rằng ở đâu cũng thế, họ mất động lực đòi hỏi minh bạch, và niềm tin rằng cả thế giới đều xấu trở thành tấm khiên bảo vệ cho bộ máy tham nhũng nội địa tiếp tục tồn tại mà không gặp áp lực cải cách.
Chính sự đánh đồng nói trên bắt nguồn từ một nhầm lẫn khái niệm phổ biến, giữa vận động hành lang được luật hóa ở Mỹ và Châu Âu với tham nhũng ở các nước đang phát triển. Cả hai đều liên quan đến việc các nhóm lợi ích tìm cách ảnh hưởng lên chính sách công, nhưng khác nhau căn bản về khung pháp lý, tính minh bạch, cơ chế vận hành và cả phạm vi tác động: vận động hành lang chủ yếu nhắm vào quyết định chính sách, dự luật, quy định quản lý ở tầm vĩ mô, trong khi tham nhũng còn len vào cả những quyết định hành chính cụ thể như cấp phép, thắng thầu dự án hay chạy án ở tầm vi mô. Tại Mỹ, Luật Công khai Vận động Hành lang buộc mọi cá nhân, tổ chức lobby phải đăng ký công khai với Quốc hội, kê khai ai thuê, chi bao nhiêu, gặp nghị sĩ nào, vận động cho dự luật nào, dữ liệu công khai này sau đó được các tổ chức phi lợi nhuận như Center for Responsive Politics tổng hợp và đăng tải trên trang OpenSecrets để bất kỳ ai cũng tra cứu được. Liên minh Châu Âu áp dụng cơ chế Transparency Register tương tự. Nhà vận động hành lang không được chuyển tiền trực tiếp vào túi cá nhân chính khách, tiền đóng góp chính trị qua các Ủy ban Hành động Chính trị bị khống chế trần mức và phải công khai toàn bộ, chính khách dùng tiền tài trợ chiến dịch cho mục đích cá nhân sẽ bị truy tố tội chiếm đoạt tài chính chiến dịch.
Ngược lại, tham nhũng là việc quan chức dùng quyền lực công được nhà nước giao để trục lợi cho bản thân, gia đình hoặc phe nhóm, dòng tiền chảy trực tiếp vào tài sản riêng như bất động sản, tài khoản ngân hàng nước ngoài, siêu xe, cổ phần đứng tên hộ, và toàn bộ giao dịch bị che giấu khỏi sự giám sát của pháp luật, báo chí, công chúng. Vận động hành lang vận hành bằng dữ liệu và lập luận công khai, các nhóm đối lập cũng có quyền thuê nhà lobby để trình bày quan điểm ngược lại, trong khi tham nhũng vận hành bằng lợi ích nhóm ngầm, chính sách được phê duyệt không vì tối ưu cho xã hội mà vì mức hoa hồng trích lại cho quan chức là cao nhất.
Khác biệt gốc rễ giữa hai hiện tượng, vì vậy, không chỉ nằm ở tính hợp pháp mà còn ở cơ chế tự sửa sai. Vì vận động hành lang diễn ra công khai và để lại hồ sơ, nếu một chính sách do lobby thúc đẩy về sau chứng minh là bất cập hoặc thiên lệch, báo chí, đối thủ chính trị và cử tri vẫn có thể lần theo dữ liệu để chất vấn, vận động sửa luật hoặc bầu ra người khác thay đổi nó. Tham nhũng thì vận hành trong bóng tối và phục vụ trực tiếp lợi ích của một nhóm nhỏ, nên không tồn tại cơ chế nào để xã hội phát hiện và điều chỉnh nếu quyết định đó gây hại, hậu quả cứ âm thầm tích tụ cho tới khi tình cờ bị phanh phui, nếu có.
________________________________________
THỂ CHẾ HAY VĂN HÓA CÓ TRƯỚC VÀ VÌ SAO GIỚI CẦM QUYỀN KHÔNG CẢI CÁCH THỂ CHẾ
Nghiên cứu của World Justice Project về Chỉ số Pháp quyền, đối chiếu với dữ liệu của Transparency International, cho thấy mối tương quan thuận rất cao, trên 0,85, giữa mức độ tham nhũng và mức độ pháp quyền thấp trên thực tế. Hầu hết quốc gia tham nhũng đều có hiến pháp và hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ, nhưng nền tảng pháp quyền thực sự đòi hỏi luật áp dụng bình đẳng cho tất cả, kể cả giới cầm quyền, và tư pháp độc lập. Ở các nước tham nhũng, hệ thống thường biến thành công cụ dùng luật để trị dân thay vì công cụ bảo vệ người dân. Các nghiên cứu như của Mishler và Rose cho thấy người dân ở những nước này không phải không biết hay không coi trọng pháp quyền, mà nhận thức rất rõ sự bất công, nhưng rơi vào trạng thái bất lực được học và rút lui khỏi đời sống công dân sau khi chứng kiến luật pháp bị bẻ cong liên tục bởi tiền và quyền.
Cuộc tranh luận giữa việc văn hóa hay thể chế có trước là chủ đề kinh điển trong khoa học xã hội. Công trình của Daron Acemoglu, Simon Johnson và James Robinson, được trao giải Nobel Kinh tế 2024, nghiêng về phía thể chế quyết định văn hóa. Thí nghiệm lịch sử rõ nhất là trường hợp Triều Tiên và Hàn Quốc: trước năm 1945 hai miền chung văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử hàng ngàn năm, nhưng sau 70 năm chia cắt với hai hệ thống thể chế đối lập, hành vi xã hội và độ liêm chính của người dân hai miền khác nhau hoàn toàn, cho thấy thể chế định hình hành vi ứng xử chứ không phải ngược lại. Khi thể chế yếu kém, bộ máy quan liêu, tư pháp phụ thuộc, thủ tục phiền hà buộc người dân phải dùng văn hóa phong bì để sinh tồn, và qua nhiều thế hệ, việc lách luật ăn sâu thành thói quen được gọi là văn hóa.
Một khi văn hóa lách luật đã ăn sâu, nó quay lại nuôi dưỡng chính thể chế yếu kém sinh ra nó, tạo thành vòng lặp phản hồi âm: thể chế yếu buộc người dân hối lộ để xong việc, hành vi này lặp lại trở thành chuẩn mực xã hội, chuẩn mực này khiến xã hội bình thường hóa tham nhũng và không còn áp lực đòi cải cách, khiến thể chế tiếp tục trì trệ. Theo hướng nghiên cứu này, văn hóa chấp nhận tham nhũng không phải bản chất cố hữu của một dân tộc mà là chiến lược sinh tồn hình thành từ việc sống trong một hệ thống thiếu pháp quyền, và muốn thay đổi văn hóa thì phải cải cách thể chế trước - minh bạch hóa, tư pháp độc lập, xử lý nghiêm minh - chứ không thể chỉ giáo dục đạo đức suông.
Nếu thể chế thực sự quyết định văn hóa như trên, câu hỏi kế tiếp là vì sao giới cầm quyền ở các nước thể chế yếu không chủ động cải cách. Công trình của Acemoglu và Robinson trong "Why Nations Fail" mô tả khái niệm thể chế khai thác, tức hệ thống được thiết kế để tập trung quyền lực và tiền bạc vào tay một nhóm nhỏ tinh hoa, đồng thời rút nguồn lực từ phần còn lại của xã hội. Giới cầm quyền thường thừa biết thể chế có nhiều bất cập và kìm hãm tiềm năng phát triển quốc gia, nhưng bất kỳ cải cách triệt để nào hướng tới minh bạch và pháp quyền cũng đe dọa làm mất đặc quyền kinh tế và vị thế chính trị của họ, nên với họ sự suy yếu đặc quyền của phe nhóm là rủi ro lớn hơn nhiều so với sự trì trệ của cả quốc gia.
Để duy trì sự phục tùng mà không phải dùng đến bạo lực tốn kém, giới cầm quyền đầu tư mạnh vào công cụ hợp pháp hóa hệ tư tưởng, điều mà nhà xã hội học Max Weber từng phân tích qua khái niệm các dạng tính chính danh, và nhà kinh tế học Douglass North, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1993, gọi là cơ chế giảm chi phí giao dịch: nếu thuyết phục được quần chúng tin rằng thể chế hiện tại là tối ưu hoặc không thể thay đổi, người dân sẽ tự giác tuân thủ mà không cần trấn áp. Các nghiên cứu xã hội học chính trị phân loại một số mẫu hình lý luận thường được dùng để bảo vệ thể chế khai thác.
Chủ nghĩa ngoại lệ văn hóa - lịch sử viện dẫn rằng đất nước có đặc thù riêng nên không thể áp dụng chuẩn mực minh bạch hay pháp quyền của thế giới, qua đó biến sự thiếu sót thể chế thành bản sắc cần bảo vệ.
Sự tráo đổi khái niệm ổn định thay cho phát triển và bình đẳng liên tục cảnh báo về nguy cơ hỗn loạn nếu có thay đổi thể chế, nhằm tạo tâm lý sợ hãi để công chúng chấp nhận lạm quyền như cái giá phải trả cho sự bình yên.
Thuật ngữ hóa phức tạp, điều mà George Orwell từng phân tích trong tiểu luận "Politics and the English Language" và nhà khoa học chính trị Murray Edelman phân tích trong công trình The Symbolic Uses of Politics, tạo ra hệ thống khái niệm trừu tượng và mơ hồ khiến người dân cảm thấy vấn đề vượt quá khả năng hiểu biết của mình và tự nguyện giao quyền quyết định cho giới chuyên gia hoặc giới cầm quyền.
Một vòng lặp tự củng cố hình thành giữa lợi ích và lý luận: khi lợi ích nhóm càng lớn, một tầng lớp trí thức phục vụ thể chế hình thành, được trả công bằng học hàm, vị trí, danh tiếng, ngân sách nghiên cứu, để liên tục sản xuất các lý thuyết giải thích vì sao bất cập hiện tại là tất yếu khách quan hoặc đang trong quá trình hoàn thiện. Sự xuất hiện của các hệ thống lý luận phức tạp và dài dòng để bào chữa cho một thể chế bất cập, do đó, không phải ngẫu nhiên mà là một chiến lược đầu tư có tính toán, với mục tiêu cốt lõi là biến lợi ích của một nhóm nhỏ thành thứ được trình bày như lợi ích chung của toàn xã hội trong nhận thức của quần chúng.
Nhận xét
Đăng nhận xét