NAPOLEON BONAPARTE: TỪ CÁCH MẠNG PHÁP ĐẾN NỀN CỘNG HÒA THỨ NĂM
Napoleon Bonaparte (1769-1821) là nhà quân sự và chính trị người Pháp có ảnh hưởng lớn bậc nhất đến lịch sử Châu Âu và thế giới. Từ một sĩ quan pháo binh gốc Corsica, ông trở thành Hoàng đế nước Pháp, để lại một hệ thống pháp luật, hành chính và tài chính vẫn còn dấu ấn cho đến ngày nay, đồng thời cũng để lại một đế chế sụp đổ vì chiến tranh liên miên. Để hiểu vì sao ông xuất hiện và vì sao ông sụp đổ, cần nhìn lại toàn bộ chuỗi biến động của nước Pháp từ cuộc Cách mạng năm 1789 cho đến khi thể chế chính trị hiện tại của Pháp, Nền Cộng hòa Thứ năm, ra đời năm 1958.
________________________________________
NƯỚC PHÁP CÁCH MẠNG: CHUỖI THỂ CHẾ SỤP ĐỔ VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA NAPOLEON (1769-1799)
Cuối thập niên 1780, nước Pháp vỡ nợ, mất mùa khiến dân chúng đói khổ trong khi giới quý tộc vẫn hưởng đặc quyền. Ngày 11/7/1789, việc vua Louis XVI cách chức bộ trưởng tài chính Necker, người được dân chúng tin tưởng, làm bùng lên làn sóng phẫn nộ. Sáng 14/7/1789, quần chúng Paris tràn vào kho vũ khí Hôtel des Invalides cướp được khoảng 30.000 khẩu súng nhưng thiếu thuốc súng, nên kéo đến pháo đài Bastille vì nơi đây đang cất giữ khoảng 250 thùng thuốc súng. Viên chỉ huy De Launay từ chối giao nộp, xung đột nổ ra khiến khoảng 98 người tấn công thiệt mạng cùng 1 lính gác bị giết trước khi pháo đài thất thủ, dù bên trong lúc đó chỉ giam giữ đúng 7 tù nhân. Ý nghĩa của sự kiện không nằm ở số tù nhân được giải thoát mà ở việc một biểu tượng của quyền lực chuyên chế, nơi nhà vua chỉ cần một lệnh cấm (lettre de cachet) là có thể giam bất kỳ ai không cần xét xử, đã bị quần chúng đánh sập. Ngày 14/7 sau này trở thành Quốc khánh Pháp.
Từ cột mốc đó, nước Pháp trải qua 4 thể chế chính trị sụp đổ và thay thế lẫn nhau chỉ trong 10 năm. Từ tháng 10/1789 đến tháng 8/1792 là chế độ Quân chủ Hiến pháp, trong đó vua Louis XVI giữ quyền hành pháp còn Quốc hội Lập pháp nắm quyền lập pháp. Tình hình cực kỳ bất ổn vì nhà vua bí mật cấu kết với các nước phong kiến bên ngoài, đỉnh điểm là việc ông cải trang bỏ trốn nhưng bị bắt lại tại Varennes tháng 6/1791. Hành động phản quốc này khiến quần chúng phẫn nộ tột độ, dẫn đến cuộc tấn công hoàng cung tháng 8/1792 và sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ quân chủ lập hiến.
Từ tháng 9/1792 đến tháng 6/1793 là giai đoạn Cộng hòa sơ khai dưới Quốc hội Quốc dân. Louis XVI bị đưa lên máy chém ngày 21/1/1793, khiến các đế quốc phong kiến Châu Âu hoảng sợ và liên minh tấn công Pháp từ bên ngoài, trong khi phe bảo hoàng nổi dậy ở nội địa, tiêu biểu là vùng Vendée. Bên trong Quốc hội, phe Girondins ôn hòa và phe Jacobins cấp tiến tranh giành quyền lực gay gắt.
Từ tháng 6/1793 đến tháng 7/1794 là Thời kỳ Khủng bố dưới chế độ chuyên chính Jacobin, khi Ủy ban An ninh Công cộng do Maximilien Robespierre đứng đầu nắm quyền tuyệt đối. Đạo luật Nghi phạm cho phép bắt giữ bất kỳ ai bị tình nghi chống cách mạng mà không cần xét xử đàng hoàng, khiến khoảng 17.000 người bị xử tử chính thức qua tòa án cách mạng, còn nếu tính cả các vụ giết không qua xét xử và đàn áp ở những vùng nổi dậy như Vendée thì tổng số người chết trong giai đoạn này có thể lên tới 40.000 người hoặc hơn, song song với chính sách giá trần, trưng thu lương thực và tổng động viên toàn quốc để đẩy lùi ngoại xâm. Dù giúp nước Pháp thoát khỏi nguy cơ bị đè bẹp từ bên ngoài, bầu không khí sợ hãi khiến chính các phe cách mạng quay sang tiêu diệt lẫn nhau, và cuối cùng chính Robespierre cũng bị đưa lên máy chém. Cũng trong giai đoạn này, một sĩ quan pháo binh trẻ tên Napoleon Bonaparte xuất hiện. Ông sinh năm 1769 tại đảo Corsica trong một gia đình quý tộc nhỏ, chỉ một năm sau khi Pháp mua lại hòn đảo này từ Cộng hòa Genova nên là công dân Pháp ngay từ khi chào đời dù gốc gác Ý, và theo học các trường quân sự Pháp trước khi ghi dấu ấn quân sự đầu tiên khi giải phóng cảng Toulon khỏi phe bảo hoàng và hải quân Anh vào cuối năm 1793, mở đầu cho sự nghiệp thăng tiến thần tốc của ông.
Từ 1795 đến 1799 là Chính phủ Đốc chính (Directoire), một mô hình Cộng hòa đại diện tư sản ôn hòa với 5 Đốc chính chia sẻ quyền hành pháp để tránh việc một cá nhân trở thành độc tài, cùng Quốc hội hai viện. Nhưng chính phủ này bất lực và thối nát, bị giằng xé giữa phe Bảo hoàng muốn đưa vua trở lại và phe Tả cực đoan, trong khi kinh tế lạm phát phi mã và cướp bóc hoành hành. Cũng trong giai đoạn này, Napoleon dẹp tan cuộc nổi dậy của lực lượng hoàng gia tại Paris năm 1795, rồi bằng chiến thuật di chuyển nhanh và tập trung hỏa lực, liên tiếp đánh bại quân Áo trong chiến dịch Ý và tiếp tục chinh chiến tại Ai Cập, trở thành vị tướng lừng danh khắp Châu Âu ngay khi còn rất trẻ. Sau 10 năm hỗn loạn liên tiếp, dân chúng kiệt sức và khao khát một bàn tay mạnh mẽ để lập lại trật tự, đó chính là mảnh đất màu mỡ để vị tướng trẻ này thực hiện cuộc đảo chính năm 1799.
________________________________________
TỪ ĐỆ NHẤT TỔNG TÀI ĐẾN HOÀNG ĐẾ NƯỚC PHÁP
Năm 1799, Napoleon thực hiện cuộc đảo chính 18 Sương mù, lật đổ Chính phủ Đốc chính và lập ra chế độ Đệ nhất Tổng tài (Consulat), trong đó ông là Đệ nhất Tổng tài nắm toàn bộ quyền lực thực tế. Để trấn an lòng dân, ông không khôi phục đặc quyền phong kiến mà củng cố các thành quả cách mạng, thành lập Ngân hàng Pháp để dập tắt lạm phát, ký hòa ước với Giáo hội Công giáo để xoa dịu mâu thuẫn tôn giáo, và ban hành Bộ luật Dân sự năm 1804. Lần đầu tiên sau 15 năm, nước Pháp thoát khỏi cảnh rối ren nội bộ.
Năm 1804, Napoleon tự đăng quang Hoàng đế Napoléon I, chấm dứt nền Cộng hòa thứ nhất. Việc một vị tướng xuất thân từ cuộc cách mạng vốn sinh ra để xóa bỏ ngai vàng phong kiến lại tự đặt vương miện lên đầu mình là nghịch lý lớn nhất trong sự nghiệp của ông, nhưng quyết định này xuất phát từ ba tính toán chính trị cụ thể chứ không đơn thuần là tham vọng cá nhân. Thứ nhất, các phe bảo hoàng liên tục mưu sát ông, và một ngôi vị có người kế vị rõ ràng sẽ khiến việc ám sát trở nên vô nghĩa vì chế độ vẫn tồn tại. Thứ hai, các đế quốc Anh, Áo, Phổ, Nga khi đó coi một nước Pháp Cộng hòa là chính thể không chính thống, nên Napoleon muốn đứng ngang hàng với họ dưới danh nghĩa một Hoàng đế hợp pháp. Thứ ba, sau 15 năm hỗn loạn kể từ 1789, đa số dân chúng Pháp thực sự khao khát ổn định và đã bỏ phiếu đồng ý trong cuộc trưng cầu dân ý đưa ông lên ngôi.
Dù mang danh Hoàng đế, Napoleon không quay lại mô hình phong kiến cũ dựa trên thần quyền và đặc quyền quý tộc, mà tuyên bố cai trị nhân danh nhân dân Pháp, đồng thời giữ nguyên các thành quả cách mạng như bình đẳng trước pháp luật và quyền sở hữu tài sản của dân thường. Việc lên ngôi Hoàng đế vì vậy vừa là một bước lùi về thể chế chính trị, từ Cộng hòa quay lại chế độ cai trị của một cá nhân, vừa là một bước tiến về xã hội khi ông dùng quyền lực đó để lan tỏa các lý tưởng hiện đại của Cách mạng Pháp ra khắp Châu Âu.
________________________________________
NHỮNG DI SẢN CẢI CÁCH CỦA NAPOLEON
Ngoài tài năng quân sự, Napoleon còn là nhà cải cách chính trị, pháp lý và hành chính có ảnh hưởng sâu rộng. Ngay từ những năm đầu làm Đệ nhất Tổng tài, ông đã chia nước Pháp thành các tỉnh do các Tỉnh trưởng đứng đầu, một mô hình quản lý tập trung được thiết lập từ năm 1800 và vẫn được Pháp sử dụng đến tận ngày nay. Ông cũng xóa bỏ nguyên tắc bổ nhiệm theo dòng tộc, thay bằng chế độ tuyển dụng theo năng lực trong cả bộ máy nhà nước lẫn quân đội.
Về kinh tế và tài chính, để cứu nước Pháp khỏi lạm phát và phá sản sau Cách mạng, ông thành lập Ngân hàng Pháp năm 1800 và đến năm 1803 phát hành đồng Franc Germinal dựa trên tiêu chuẩn vàng và bạc, giúp dập tắt lạm phát và khôi phục niềm tin kinh doanh trong suốt một thế kỷ, đồng thời xây dựng một hệ thống thuế minh bạch hơn.
Đóng góp lớn nhất về mặt pháp lý đến năm 1804, khi trước đó pháp luật Pháp vẫn là một mớ tập quán địa phương lộn xộn. Bộ luật Dân sự ban hành năm đó, còn gọi là Bộ luật Napoleon, tuyên bố mọi công dân nam giới bình đẳng trước pháp luật, xóa bỏ đặc quyền quý tộc và tăng lữ, bảo vệ tuyệt đối quyền sở hữu tài sản cá nhân, đồng thời cho phép tự do tín ngưỡng và tách giáo hội khỏi chính quyền. Tuy nhiên, sự bình đẳng này không áp dụng cho phụ nữ, những người bị đặt dưới quyền của chồng, không có đầy đủ quyền công dân và không thể tự mình ký hợp đồng, ra tòa hay quản lý tài sản riêng nếu không được chồng cho phép. Chính Napoleon từng nói khi bị lưu đày ở Saint Helena: "Vinh quang của tôi không nằm ở 40 trận đánh thắng... Nhưng thứ sẽ sống mãi cùng thời gian chính là Bộ luật Dân sự của tôi." Bộ luật này về sau trở thành khuôn mẫu cho hệ thống luật dân sự của hơn 100 quốc gia, bao gồm hầu hết Châu Âu, Châu Mỹ La-tinh và cả Việt Nam sau này.
Về giáo dục, Napoleon coi đây là công cụ đào tạo công dân có tri thức và trung thành với quốc gia. Năm 1802, ông lập ra Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh để tôn vinh những cá nhân có đóng góp xuất sắc cho đất nước và thành lập hệ thống trường trung học công lập (Lycées) trên toàn quốc, rồi đến năm 1808 tiếp tục thống nhất giáo dục đại học dưới quản lý nhà nước qua Đại học Pháp.
Dù mang quân đi xâm lược, các đoàn quân của Napoleon cũng vô tình gieo rắc những tư tưởng hiện đại ra khắp Châu Âu. Ở những nơi ông đi qua như Ý, Đức, Hà Lan, chế độ phong kiến bị bãi bỏ, nông nô được giải phóng và Bộ luật Napoleon được áp dụng. Sự thống trị của Pháp cũng vô tình kích hoạt tinh thần dân tộc ở Đức và Ý, tạo tiền đề cho phong trào thống nhất quốc gia của hai nước này vào nửa sau thế kỷ 19.
________________________________________
ĐẾ CHẾ NAPOLEON: BÁ CHỦ CHÂU ÂU VÀ CÁI GIÁ PHẢI TRẢ
Sau khi xưng đế, Napoleon liên tiếp đánh bại các liên minh chống Pháp qua những trận đánh kinh điển như Austerlitz năm 1805 và Jena-Auerstedt năm 1806, đưa nước Pháp lên đỉnh cao quyền lực khi kiểm soát gần như toàn bộ lục địa Châu Âu. Khắp nước Pháp tràn ngập niềm tự hào dân tộc, người Pháp tự xem mình là lực lượng khai sáng và giải phóng Châu Âu.
Nhưng cái giá phải trả rất lớn. Nước Pháp liên tục trong tình trạng chiến tranh, hàng triệu thanh niên bị động viên vào Đại quân, lao động sản xuất ở nông thôn thiếu hụt nghiêm trọng, còn đời sống bình dân chịu áp lực thuế khóa và nghĩa vụ quân sự nặng nề. Sau thất bại trước Hải quân Anh tại trận Trafalgar năm 1805, Napoleon không thể đánh bại nước Anh trên biển nên áp đặt Hệ thống Phong tỏa Lục địa, cấm toàn bộ Châu Âu giao thương với Anh. Hậu quả ngược lại giáng vào chính kinh tế Pháp, khi nguyên liệu công nghiệp như bông và đường thiếu hụt, các cảng biển bị đóng băng và nạn buôn lậu tràn lan. Sự nhiệt huyết ban đầu dần nhường chỗ cho bất mãn, giới tinh hoa lo sợ mất tài sản còn người dân tìm cách trốn nghĩa vụ quân sự, trong khi cuộc chiến tại Tây Ban Nha kéo dài như một vết thương mạn tính rút cạn nguồn lực của đế chế.
________________________________________
SỤP ĐỔ: CHIẾN DỊCH NGA, WATERLOO VÀ NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI
Năm 1812, Napoleon đem khoảng 600.000 đến 685.000 quân xâm lược Nga, trong đó chỉ khoảng 355.000 là người Pháp còn lại là quân các nước chư hầu như Áo, Phổ, Ba Lan, Ý và Đức. Cuộc viễn chinh thất bại thảm hại vì mùa đông khắc nghiệt và chiến thuật tiêu thổ của quân Nga, khiến chỉ khoảng 93.000 đến 120.000 người trở về, phần lớn không còn khả năng chiến đấu. Đây là mắt xích sụp đổ đầu tiên: đất nước kiệt quệ nhân lực đến mức Napoleon phải tuyển cả những thiếu niên mới 15 đến 16 tuổi, gọi là thế hệ Marie-Louise. Thấy nước Pháp suy yếu, Liên minh Châu Âu phản công, tràn vào chiếm Paris năm 1814, buộc Napoleon thoái vị và bị lưu đày ra đảo Elba.
Đây là mắt xích sụp đổ thứ hai, diễn ra 3 năm sau và tại một địa điểm khác. Napoleon trốn khỏi Elba, trở về Pháp và được quân đội cùng dân chúng đón chào, lập nên chế độ Trăm Ngày. Khi biết ông quay lại, các nước Anh, Phổ, Hà Lan lập tức tập trung quân ở vùng Bỉ ngày nay để chuẩn bị tấn công Pháp, và Napoleon chủ động đem quân sang đánh phủ đầu trước khi liên quân kịp hội tụ đông hơn. Ngày 18/6/1815, ông thất bại hoàn toàn trước Liên minh thứ bảy, gồm quân Anh, Hà Lan và các bang Đức do Công tước Wellington chỉ huy phối hợp với quân Phổ do Thống chế Blücher chỉ huy, tại trận Waterloo gần Brussels, khi đó thuộc Vương quốc Liên hiệp Hà Lan vì Bỉ chưa tồn tại như một quốc gia độc lập. Napoleon bị lưu đày lần thứ hai ra đảo Saint Helena giữa Đại Tây Dương và qua đời tại đây năm 1821.
________________________________________
SAU NAPOLEON: PHỤC HOÀNG, CÁC CUỘC CÁCH MẠNG VÀ ĐẾ CHẾ THỨ HAI
Sau khi Napoleon sụp đổ, các đế quốc Châu Âu đưa dòng họ Bourbon trở lại ngai vàng, nước Pháp quay lại chế độ Quân chủ. Nhưng người dân Pháp đã quen với tư tưởng tự do và bình đẳng, không thể chấp nhận sự hà khắc của các vị vua phong kiến mới, dẫn đến hàng loạt cuộc nổi dậy tiếp theo là Cách mạng tháng Bảy năm 1830 và Cách mạng năm 1848, lật đổ nhà vua và thành lập Nền Cộng hòa Thứ hai.
Khi lập ra Nền Cộng hòa Thứ hai năm 1848, người Pháp nhìn sang mô hình Tổng thống của nước Mỹ, vốn đã vận hành thành công gần 60 năm, nhưng vẫn giữ tư duy Châu Âu quen với việc cần một cá nhân kiệt xuất đứng đầu để giữ quốc gia không bị chia rẽ. Chức vụ Tổng thống ra đời như một giải pháp dung hòa giữa phe Bảo hoàng muốn có vua nắm quyền tập trung và phe Cộng hòa nhất quyết không muốn ngai vàng quay lại. Tổng thống giống vua ở chỗ là nguyên thủ quốc gia, nắm quyền chỉ huy quân đội và đứng trên các phe phái, nhưng khác vua ở điểm cốt lõi là không cha truyền con nối mà do dân bầu ra theo nhiệm kỳ, khi đó là 4 năm.
Chính vì chức Tổng thống quá giống vua nên khi người Pháp bầu vị Tổng thống đầu tiên là Louis-Napoléon Bonaparte, cháu của Napoleon I, vào năm 1848, ông này đã tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng để làm cuộc đảo chính năm 1851, tự biến mình thành Hoàng đế Napoléon III và xóa bỏ nền Cộng hòa, lập ra Đế chế Thứ hai. Thời kỳ này, Pháp trải qua giai đoạn công nghiệp hóa mạnh mẽ và quy hoạch lại thủ đô Paris theo diện mạo hiện đại như ngày nay.
Cũng dưới Đế chế Thứ hai, mối liên hệ giữa di sản Napoleon I và tham vọng thuộc địa của Pháp bắt đầu bộc lộ rõ. Pháp từng mất phần lớn thuộc địa Bắc Mỹ vào tay Anh từ Chiến tranh Bảy năm năm 1763, còn vùng Louisiana rộng lớn thì chính Napoleon I bán lại cho Mỹ năm 1803 để lấy tiền chuẩn bị chiến tranh với Anh. Sau khi hải quân Pháp bị hải quân Anh đánh bại tại trận Trafalgar năm 1805, ưu thế biển tuyệt đối của Anh khiến Pháp lần lượt mất thêm nhiều thuộc địa còn lại ở vùng Caribe và Ấn Độ Dương trong suốt thời Napoleon, để lại tham vọng tìm kiếm thuộc địa mới ở Châu Á nhằm bù đắp cho các thế hệ sau. Các giáo sĩ Pháp như Giám mục Pigneau de Behaine từng hiện diện ở Việt Nam từ trước thời Napoleon I và hỗ trợ Nguyễn Ánh, nhưng Cách mạng Pháp và giai đoạn hỗn loạn sau đó đã làm gián đoạn kế hoạch can thiệp. Khi Napoleon I khôi phục quan hệ với Giáo hội Công giáo, ảnh hưởng của Công giáo Pháp dần phục hồi, và đến thời Napoléon III, Pháp đã lấy cớ bảo vệ giáo sĩ và giáo dân Công giáo để chính thức nổ súng tấn công Đà Nẵng năm 1858, mở đầu 80 năm đô hộ của Pháp tại Việt Nam.
Nhưng đến năm 1870, Napoléon III bị quân Phổ đánh bại và bắt sống trong trận Sedan, khiến thể chế Hoàng đế sụp đổ vĩnh viễn.
________________________________________
NỀN CỘNG HÒA THỨ BA, BÀNH TRƯỚNG THUỘC ĐỊA VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA NỀN CỘNG HÒA THỨ NĂM
Thất bại năm 1870 khiến người Pháp quyết định xóa bỏ hoàn toàn chế độ Hoàng đế để lập ra Nền Cộng hòa Thứ ba, thể chế mà nước Pháp mới thực sự bước vào giai đoạn ổn định lâu dài. Đây là thời kỳ được gọi là Belle Époque, khi Pháp trải qua cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ hai, xây dựng Tháp Eiffel năm 1889 và hệ thống tàu điện ngầm Paris, còn Paris trở thành trung tâm văn hóa nghệ thuật của thế giới.
Cùng lúc đó, Pháp lao vào cuộc đua giành thuộc địa với quy mô chưa từng có. Có 3 động lực chính thúc đẩy sự bành trướng này. Thứ nhất là mong muốn rửa hận và lấy lại vị thế siêu cường sau khi bị Phổ đánh bại và mất vùng Alsace-Lorraine năm 1870. Thứ hai là cơn khát nguyên liệu và thị trường của nền công nghiệp đang bùng nổ, vốn đã được đặt nền móng từ thời cải cách tài chính và khuyến khích công thương nghiệp của Napoleon trước đó. Thứ ba là tư tưởng gọi là "sứ mệnh khai hóa", khi giới cầm quyền Pháp tự cho mình nghĩa vụ mang văn minh đến các dân tộc Á-Phi, thực chất là bức bình phong cho việc khai thác tài nguyên thuộc địa.
Tiếp nối cuộc tấn công Đà Nẵng năm 1858 dưới thời Napoléon III, Nền Cộng hòa Thứ ba tiếp tục đẩy mạnh và hoàn tất công cuộc xâm chiếm Việt Nam trong giai đoạn này. Trong vòng chưa đầy 40 năm, từ 1870 đến 1910, bản đồ thế giới bị xới tung. Tại Châu Á, Pháp đánh chiếm trọn vẹn Việt Nam, Lào và Campuchia, gộp lại thành Liên bang Đông Dương do một Toàn quyền Pháp cai trị. Tại Châu Phi, tỷ lệ lãnh thổ bị Châu Âu kiểm soát tăng từ khoảng 10% năm 1870 lên đến khoảng 90% năm 1914, trong đó Pháp chiếm trọn vùng Bắc Phi gồm Algeria, Tunisia, Morocco cùng phần lớn Tây Phi. Đến trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Nền Cộng hòa Thứ ba đã sở hữu một đế quốc thuộc địa rộng hơn 11 triệu km2 với hơn 60 triệu dân thuộc địa, trở thành đế quốc lớn thứ hai thế giới chỉ sau Anh, còn Việt Nam là thuộc địa giá trị nhất của Pháp ở Châu Á trong thời kỳ này.
Về mặt quân sự, đỉnh cao sức mạnh của Nền Cộng hòa Thứ ba là chiến thắng trước Đế quốc Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất từ 1914 đến 1918, giúp Pháp lấy lại vùng Alsace-Lorraine và khẳng định lại vị thế bá chủ lục địa Châu Âu. Dù vậy, bộ máy chính trị của Nền Cộng hòa Thứ ba vẫn bất ổn vì Quốc hội quá nhiều phe phái, nên phải đến năm 1958, Tướng Charles de Gaulle mới thiết lập Nền Cộng hòa Thứ năm theo mô hình Bán-Tổng thống, thể chế mà nước Pháp vẫn sử dụng cho đến ngày nay với vị thế cường quốc sở hữu vũ khí hạt nhân và ghế Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
________________________________________
Ảnh: Napoleon Bonaparte vượt dãy Alps. Nguồn: Wikipedia

Nhận xét
Đăng nhận xét