Đạo Thiền Trung Quốc xuất xứ từ Ấn Độ hay chỉ là một tông phái đại thừa Trung Quốc?

Đạo Thiền Trung Quốc xuất xứ từ Ấn Độ hay chỉ là một tông phái đại thừa Trung Quốc? Cho tới nay, đa số những người Phật giáo Việt Nam vẫn coi Thiền giáo và Phật giáo chỉ là một. Sở dĩ như vậy là vì Việt Nam bị ảnh hưởng sâu đậm của Thiền đạo đến từ Trung Quốc. Nhiều người còn tin theo Tàu, cho Thiền là tên gọi tắt của Thiền Na, phiên âm chữ Hán của Dhyana, tiếng Phạn, do chính Đức Phật đặt ra khi còn sinh tiền. Theo truyền thuyết của Tàu, chính tổ sư thứ 28 của Dhyana, Bodhidharma ( Bồ đề Đạt ma) đem Thiền qua Trung Quốc từ thế kỷ thứ VI. Trước hết tôi xin nói, Dhyana trong tiếng Phạn có nghĩa : phương pháp tập trung tư tưởng, làm lắng đọng tư tưởng. Dhyana chỉ là một trong những phương pháp luyện thân và luyện tinh thần có từ trước khi Đức Phật ra đời, từ thời kinh Vệ Đà, được gọi chung là Hayayoga. Trái lại Thiền, theo từ điển Hán Việt Đào duy Anh có nghĩa thuần Hán là Ch'an, cũng có nghĩa tính từ là yên lặng thanh tịnh, tĩnh lự. Phật giáo Trung Quốc lấy thanh tịnh làm gốc nên dùng tính từ này trong nhiều từ ngữ liên quan đến Phật giáo như thiền gia, thiền môn, cửa thiền, thiền đường chứ thật ra chỉ có đạo Phật chứ làm gì có đạo Thiền. Sau đây tôi xin chứng minh : 1) Bồ đề Đạt Ma chỉ là một truyền thuyết. 2) Phật giáo Trung Quốc đã bị Đường Vũ Tông (840-846) triệt tiêu vì trở thành quá lớn mạnh, có thể lấn áp Khổng giáo, nền tảng của chế độ Trung ương tập quyền. 3) có nhiều điểm tương đồng giữa Thiền và đạo Lão, không những về những ý niệm mà còn về cách hành trì. 1) Theo huyền thoại, Bồ đề Đạt ma, hoàng tử thứ ba con vua một nước Tây nam Ấn Độ, là môn đệ chính của Bát Nhã Độ, sư tổ thứ 27 của Dhyana. Khi còn trẻ ông muốn đi giáo hóa Trung Quốc nhưng sư tổ bắt phải đợi khi ngài viên tịch lên thay thế ngài rồi mới được đi. 60 năm sau, Bát Nhã Độ viên tịch, Bồ đề Đạt ma trở thành sư tổ thứ 28 của Dhyana trở về cung giáo hóa hoàng tộc một thời gian rồi mới lấy thuyền đi Trung Quốc. Phải ngót 3 năm thuyền mới cập bến Quảng Châu ( năm 520) dưới thời vua Võ Đế nhà Lương. Ở Quảng châu vài ngày để hội kiến Võ Đế. Không ưng ý khi bàn về đạo lý, BDĐM bỏ nhà Lương, vượt Trường Giang đến nước Nguỵ, dừng lại ở chùa Thiếu Lâm tỉnh Hà Nam. Chùa này được xây dựng từ năm thứ 20 nhà Bắc Nguỵ (497). Ở chùa Bồ đề Đat ma không thuyết pháp mà chỉ ngồi xây mặt vào vách tường, im lặng nhắm mắt trong 9 năm liền, nên người đời gọi là "thầy Ba la môn ngồi nhìn vách" ( Bích quán Bà la môn ). Tương truyền là theo lời cầu khẩn của các môn đệ ngài không nhìn tường nữa, bắt đầu giảng thiền, nhưng chỉ đúng 3 ngày sau, năm thứ 3 Đạo Thông nhà Lương, ngài viên tịch. Một truyền thuyết khác lại nói BDĐM sinh năm 440, tới Trung Hoa dưới triều đại Lưu Tống (420-479), mất ở Trường An năm 528. Nếu căn cứ vào truyền thuyết này, thì BDDM không thể đợi 60 năm để thành sư tổ Thiền An Ấn độ rồi mới đi tới Trung Hoa năm 520 được, vì khi đó BDDM đã 80 tuổi và nhà Lưu Tống không còn nữa vì đã sụp đổ từ năm 479. Một khi gạt bỏ những điều huyễn hoặc trên thì phải đi tới suy luận là những điều huyễn hoặc trên chỉ được gắn vào để thêm hương thêm hoa cho Thiền, chỉ là sản phẩm thuần tuý Trung Quốc. Vậy ai là người sáng lập ra Thiền? Huệ Khả (487-593) thọ 106 tuổi, được coi là sư tổ thứ 2 ? Người được biết như sư tổ cuối cùng của Thiền Trung Quốc là Huệ Nãng, sư tổ thứ 6. Lí do nào khiến sau Huệ Năng không còn ai kế nghiệp? 2) Có thể đưa ra giả định là Thiền cũng bị Đường Vũ Tông triệt tiêu cùng Phật giáo. Trong thời kỳ Lục quốc trước khi nhà Tuỳ ra đời ( 581-618 ), Phật giáo rất phổ biến ở Trung Quốc. Thời kỳ đầu nhà Đường là thời đại hoàng kim của Phật giáo, nhất là dưới thời Đường Thái Tông (626-649), khi Trần Huyền Trang được phép đi Ấn Độ thỉnh kinh. Cũng thời kỳ này, ngoài đạo Phật, nhà vua còn cho phép nhiều đạo khác tới Trung Quốc hoạt động nên ở kinh đô Tràng An có sự hiện diện của các giáo sĩ Bà la môn , những người theo đạo Do Thái, đạo cổ Ba Tư Zoroastraoisme ( Bái hỏa) và đặc biệt là Kitô giáo khi các giáo sĩ Nestoriens ( một giáo phái Kito giáo) từ Ba Tư tới giảng đạo. Khi Võ Tắc Thiên ( 684-705) đoạt ngôi nhà Đường, Phật giáo ủng hộ Võ tắc Thiên nên rất được sủng ái. Có lẽ vì vậy mà khi nhà Đường được tái lập lại , Phật giáo bị triều đình hắt hủi. Trong lịch sử thế giới, chưa từng có đạo nào bị đàn áp mãnh liệt và trong một thời gian ngắn như vậy : 4600 ngôi chùa lớn bị phá bỏ hay biến thành công thự. 40 ngàn chỗ thờ tự và nơi tu hành bị thiêu hủy hay bỏ hoang. Cả thẩy 260 ngàn sư sãi nam nữ bị đuổi ra khỏi nơi tu hành và bị bắt phải hoàn tục. Có thể suy luận, đạo Phật thời kỳ đầu nhà Đường sinh hoạt không khác gì đạo Phật ở các nước ĐN Á trong cách tổ chức các tăng đoàn, các tu viện, trong cách phổ biến các kinh kệ , giáo lý Phật giáo, giáo dục con trẻ, và trong sự phụ thuộc vào người dân về kinh tế, lương thực hàng ngày ( các tăng sĩ đi khất thực như thời Đức Phật). Các chùa chiền và các tu viện thời đó tất nhiên là phải nằm ở những nơi đô hội đông người tụ tập kinh tế phát triển vì đặt cơ sở trên thương nghiệp chứ không phải nông nghiệp. Nhưng cái "tội" của đạo Phật là làm đảo lộn luân thường đạo lý Khổng giáo với những ý niệm sau khi chết con người phải đầu thai kiếp khác tùy theo nghiệp chướng, không thể chấp nhận được với tục thờ cúng tổ tiên. Chế độ Trung ương tập quyền có từ thời Tần Thuỷ Hoàng là một chế độ thế tục toàn trị, không bao giờ chấp nhận bất cứ một quyền lực nào mà mình không chỉ phối được, dù chỉ là quyền hành về tinh thần. Với số lượng gần 300 ngàn tăng ni, bằng 1% dân số Hán thời ấy ( chừng khoảng 30 tr người), những tăng đoàn Phật giáo còn lớn mạnh hơn giáo hội Công giáo ở Âu châu và Cận đông cùng thời. Nếu không có cuộc đàn áp của Đường Vũ Tông, có thể Phật giáo đã trở thành một thứ giáo hội Công giáo ở Trung Quốc hay ít nhất cũng như Phật giáo ở các nước Thái Lan, Miến điện , Sri Lanka Cam bốt... 3) Xa với Dhyana, Thiền đạo có nhiều điểm tương đồng với Lão giáo Khi nói về Thiền, các nhà thiền học đều đưa ra 4 tông chi của Thiền là : Bất lập văn tự ( không viết chức nghĩa kinh kệ) Giáo ngoại biệt truyền (Truyền riêng ngoài đạo) Trực chỉ nhân tâm (Đi thẳng vào tâm con người) Kiến tính thành Phật (Thấy tính thành Phật) Bốn tông chi này rất đối nhau trong ngôn ngữ Hán nên đây cũng là một bằng chứng không phải Là Bồ Đề Đạt Ma đã đặt ra cho dù rất giỏi chữ Hán Trong 4 tông chi này, chỉ tông chi 4 có chữ Phật, có nghĩa là Phật tính. Phật tính có sẵn ở mỗi con người cũng như Đạo. Chỉ cần thay Phật bằng Đạo là có thể coi 4 tông chi này là của Lão giáo. "Trực chỉ nhân tâm" có nghĩa là chứng ngộ ngay tức khắc qua cái tâm của mình, tức là thuyết đốn ngộ, có thể được giải thoát ngay từ đời sống này (kiếp này). Theo thuyết nhà Phật , mọi chúng sinh đều phải qua nhiều kiếp, tùy thuộc những nghiệp xấu tốt từ kiếp trước. Phật còn phải trải qua mấy ngàn kiếp mới ngộ, thì làm sao Thiền có thể là một tông phái của đạo Phật được? Thiền lại càng không thể là một tông phái Đại thừa (Trung Quốc ): Theo Đại thừa, những vị Bồ Tát trải qua nhiều kiếp đã tựu Phât quả , nhưng nguyện không nhập Niết bàn khi mọi chúng sinh chưa giác ngộ. Các vị Bồ tát vẫn luẩn quẩn tái sinh dưới thế để cứu độ chúng sinh. Tôi có thể suy đoán : Thiền cũng như Phật giáo Trung Quốc, được tái lập lại sau thời Đường Vũ Tông nhưng bị Lão giáo hóa để góp phần tạo ra cái gọi là Tam giáo, trong đó Khổng giáo "đạo Nhà nước" là nòng cốt, Phật giáo , Lão giáo là đạo "anh em".

Nhận xét