NGUYÊN NHÂN THƯƠNG VONG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
Trong các cuộc chiến tranh hiện đại gần đây như xung đột Nga - Ukraine, chiến sự tại Dải Gaza hay các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan, súng trường không phải là nguyên nhân gây thương vong chủ yếu. Phần lớn thương vong đến từ vũ khí nổ và hỏa lực diện rộng, cụ thể là pháo binh, cối, drone, mìn và bẫy nổ.
Trong xung đột Nga - Ukraine, pháo binh từng gây ra khoảng 70% đến 80% thương vong trong giai đoạn 2022 đến 2024, theo nhiều ước tính khác nhau từ viện nghiên cứu RUSI của Anh và các nguồn quân sự phương Tây, dù mức độ chính xác dao động tùy nguồn, tùy phía và tùy từng giai đoạn cụ thể của cuộc chiến. Nguyên nhân chính là mảnh văng từ đạn pháo 155mm, 152mm, đạn cối và tên lửa phóng loạt như Grad, HIMARS, xé rách mô cơ, gây mất máu cấp tính và chấn thương sóng xung kích cho cơ quan nội tạng.
Tuy nhiên đến năm 2025, drone, đặc biệt là drone FPV, đã vượt qua pháo binh để trở thành nguyên nhân gây thương vong hàng đầu trên tuyến đầu. Theo phát biểu của giới chức Ukraine tại Đối thoại Shangri-La năm 2025 và nhiều ước tính tổng hợp từ các nguồn quân sự phương Tây, drone gây ra khoảng 60% đến 80% thương vong chiến đấu trên chiến trường. Với riêng thương vong dân thường, Phái bộ Giám sát Nhân quyền Liên Hợp Quốc tại Ukraine ghi nhận drone tầm ngắn là loại vũ khí gây thương vong dân thường nhiều nhất kể từ đầu năm 2025, đặc biệt tại các khu vực gần tiền tuyến. Các drone FPV gắn đầu nổ đâm thẳng vào công sự hoặc binh sĩ, hoặc thả đạn cối, lựu đạn trực tiếp từ trên không với độ chính xác rất cao.
Trong các cuộc chiến bất đối xứng hoặc chiến tranh đô thị như tại Iraq, Afghanistan hay Gaza, mìn tự chế, mìn chống người và lựu đạn gây tỷ lệ thương vong rất cao đối với lực lượng bộ binh tuần tra.
Súng bộ binh gồm súng trường, súng máy và súng bắn tỉa thường chỉ chiếm khoảng 10% đến 15%, thậm chí thấp hơn, trong các cuộc chiến tranh quy mô lớn giữa các quốc gia. Vai trò thực sự của súng trường là vũ khí bảo vệ cá nhân, áp chế tầm gần, chốt giữ vị trí và giao chiến trong không gian hẹp.
Súng trường gây tỷ lệ thương vong thấp hơn vì ba lý do. Thứ nhất, áo giáp chống đạn và mũ Kevlar hiện đại chặn hiệu quả các loại đạn súng trường cỡ 5,56mm hay 5,45mm vào vùng ngực và đầu. Thứ hai, hai bên thường giao chiến ở khoảng cách xa thông qua trinh sát drone và hỏa lực tầm xa nên binh sĩ hiếm khi nhìn thấy đối phương để đấu súng trực tiếp. Thứ ba, súng trường phần lớn được bắn để ghìm đầu đối phương, còn đạn pháo hoặc drone mới là lực lượng được gọi đến để tiêu diệt mục tiêu đó.
Pháo binh gây tỷ lệ thương vong cao trong chiến tranh hiện đại không phải nhờ may rủi mà nhờ độ chính xác được nâng cấp bởi drone và GPS. Trinh sát cơ không người lái bay ngay trên đầu đối phương, truyền tọa độ chính xác tới từng mét về khẩu đội pháo trong vài giây. Các loại đạn pháo dẫn đường như Excalibur của Mỹ, NATO hay Krasnopol của Nga gắn định vị GPS hoặc đầu dò laser, khi bắn từ khoảng cách 30 kilômét đến 40 kilômét quả đạn tự điều chỉnh cánh vây để rơi trúng mục tiêu với độ lệch chỉ 1m đến 2m.
Sức hủy diệt của đạn pháo chủ yếu đến từ mảnh văng chứ không cần rơi trúng người. Một quả đạn pháo 155mm chứa hàng chục kilôgam thuốc nổ mạnh, khi nổ vỏ thép xé thành hàng nghìn mảnh kim loại sắc nhọn văng ra với tốc độ hơn 1.000 mét mỗi giây. Trong bán kính 50m mảnh văng có thể găm nát mọi thứ kể cả khi nấp sau cây hay tường gạch mỏng, còn trong bán kính 100m đến 150m nó vẫn đủ sức gây thương vong nghiêm trọng.
Nếu binh sĩ đào chiến hào để né đạn nổ dưới đất, quân đội sẽ dùng kíp nổ cảm biến khoảng cách khiến quả đạn tự nổ ở độ cao 5m đến 10m ngay trên không trung, mảnh văng xối thẳng từ trên trời xuống lòng chiến hào khiến việc nấp dưới rãnh hào gần như không còn tác dụng. Ngay cả với đạn pháo thường không dẫn đường, các hệ thống pháo phản lực bắn loạt như Grad, Uragan hay HIMARS có thể trút hàng chục tới hàng trăm quả đạn rocket xuống một vùng không gian rộng chỉ trong vài giây, kết hợp với chiến thuật bắn và chạy cùng radar định vị phản pháo để cả đại đội pháo đồng loạt trút đạn xuống cùng một thời điểm trước khi mục tiêu kịp nghe tiếng nổ đầu tiên để trú ẩn.
Ngay cả khi không bị mảnh văng găm vào người, áp suất do quả đạn pháo nổ ở cự ly gần tạo ra sóng xung kích cực mạnh, làm tăng áp suất không khí đột ngột rồi vỡ ra, gây rách phổi, xuất huyết não, vỡ tai và đứt mạch máu nội tạng mà bên ngoài cơ thể nhìn không thấy vết thương.
________________________________________
SỰ LỖI THỜI CỦA VŨ KHÍ THẾ CHIẾN THỨ HAI VÀ NHỮNG GÌ THAY THẾ CHÚNG
So với Thế chiến thứ hai, bộ mặt chiến tranh hiện đại đã thay đổi hoàn toàn nhờ sự bùng nổ của vũ khí dẫn đường chính xác, vệ tinh, radar và drone. Nhiều loại vũ khí từng là trụ cột hoặc biểu tượng ở Thế chiến thứ hai giờ đây đã lỗi thời hoặc bị giảm mạnh hiệu quả tác chiến.
Pháo cao xạ tầm trung và tầm thấp như Flak 88mm của Đức hay Bofors 40mm từng là lưới lửa chính bảo vệ bầu trời, bắn hạ hàng nghìn máy bay ném bom đối phương bằng cách tạo ra các vùng nổ mảnh trên không. Ngày nay máy bay chiến đấu hiện đại cơ động cực nhanh và thường cắt bom hoặc phóng tên lửa từ độ cao hàng nghìn mét hoặc từ khoảng cách hàng chục kilômét, ngoài tầm bắn của pháo cao xạ truyền thống. Pháo cao xạ tự hành gắn radar như Gepard gần đây tái xuất hiện nhưng chỉ để đánh chặn các loại drone giá rẻ, bay chậm.
Xe tăng hạng nặng như Tiger, King Tiger của Đức hay IS-2 của Liên Xô với lớp giáp dày từng là nắm đấm thép đập tan các tuyến phòng thủ. Khái niệm xe tăng hạng nặng đã hoàn toàn phá sản vì quá nặng nề, tốn nhiên liệu và dễ làm sập cầu. Sự xuất hiện của tên lửa chống tăng có điều khiển như Javelin và đặc biệt là drone FPV mang đầu nổ khiến mọi lớp giáp thép thụ động trở nên vô dụng. Một chiếc drone FPV giá khoảng 500 USD mang đầu nổ lõm có thể đâm vào nóc xe, nơi giáp mỏng nhất, và phá hủy một chiếc xe tăng trị giá hàng triệu USD.
Thiết giáp hạm từng thoái vị nhường ngôi bá chủ đại dương cho tàu sân bay ngay từ Thế chiến thứ hai, và đã hoàn toàn ngừng hoạt động từ đầu thập niên 1990 do sự thống trị của tàu sân bay và tên lửa dẫn đường, bên cạnh việc quá đắt đỏ để vận hành và là mục tiêu di động khổng lồ. Tàu sân bay và tàu khu trục dù vẫn được sử dụng nhưng hiệu quả và độ an toàn đã giảm nghiêm trọng, do sự ra đời của tên lửa hành trình diệt hạm, tên lửa siêu thanh và xuồng không người lái cảm tử khiến việc bảo vệ một con tàu trị giá hàng tỷ USD trên biển trở nên vô cùng rủi ro.
Máy bay ném bom chiến lược như B-17, B-29 hay Lancaster từng bay thành đội hình khổng lồ trút hàng nghìn tấn bom không dẫn đường xuống các thành phố hay khu công nghiệp để san phẳng mục tiêu. Cách làm này ngày nay vô cùng lãng phí và nguy hiểm vì hệ thống phòng không tầm xa hiện đại như S-400 hay Patriot sẽ khóa mục tiêu và bắn hạ các máy bay ném bom cỡ lớn trước khi chúng kịp đến gần, nên quân đội các nước chuyển sang dùng tên lửa hành trình tầm xa hoặc một máy bay mang vài quả bom thông minh dẫn đường bằng laser hoặc GPS để tiêu diệt chính xác mục tiêu.
Súng phun lửa vác vai từng cực kỳ phổ biến ở Thế chiến thứ hai để xóa sổ lô cốt và hầm ngầm. Loại vũ khí này không bị cấm hoàn toàn theo luật quốc tế, mà chỉ bị Nghị định thư III của Công ước về Vũ khí Quy ước hạn chế sử dụng gần khu dân cư, nhưng đã gần như biến mất khỏi chiến trường vì chiến thuật lỗi thời đòi hỏi áp sát mục tiêu quá gần, nguy hiểm cho chính người mang do dễ phát nổ, và bị thay thế hiệu quả hơn bởi đạn nhiệt áp bắn từ xa. Súng chống tăng thô sơ như Bazooka hay Panzerfaust chỉ có tầm bắn vài chục mét và đạn đi theo quỹ đạo thẳng, trong khi xe tăng hiện đại có kính ngắm nhiệt và hệ thống bảo vệ chủ động có thể phát hiện và tiêu diệt người bắn trước khi họ kịp áp sát.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa Thế chiến thứ hai và hiện tại nằm ở độ chính xác và tầm nhìn. Nhờ vệ tinh và drone, chiến trường ngày nay gần như trong suốt, không còn chỗ cho các binh đoàn xe tăng hay hạm đội lớn giấu mình. Trong Thế chiến thứ hai, để phá hủy một mục tiêu như khu nhà máy, không quân Mỹ từng phải huy động khoảng 1.000 phi vụ oanh tạc cơ hạng nặng, thả tới 9.000 quả bom, vì chỉ khoảng 20% số bom ném ban ngày rơi trúng trong phạm vi khoảng 300m quanh điểm ngắm. Cầu Thanh Hóa ở Việt Nam là một ví dụ điển hình cho sự thay đổi này. Cây cầu chống chịu được 871 phi vụ oanh tạc bằng bom không dẫn đường từ năm 1965, cho tới khi bị đánh sập nhịp phía tây trong đợt tấn công ngày 27/4/1972 và bị phá hủy hoàn toàn trong đợt tấn công tiếp theo ngày 13/5/1972, khi không quân Mỹ dùng 24 quả bom dẫn đường bằng laser gồm 9 quả loại 3.000 pound và 15 quả loại 2.000 pound, cùng 48 quả bom thường loại 500 pound. Ngày nay chỉ cần một quả tên lửa dẫn đường là đủ, nên các vũ khí cồng kềnh, cự ly ngắn và dựa vào số lượng của Thế chiến thứ hai đều trở thành mục tiêu tập bắn cho các công nghệ mới.
Sự thoái trào của vũ khí Thế chiến thứ hai đã nhường chỗ cho một hệ sinh thái quân sự hoàn toàn mới, trong đó độ chính xác, tự động hóa, tầm bắn xa và khả năng tàng hình thay thế cho quy mô khổng lồ hay lớp giáp dày của thời kỳ trước.
Drone và các thiết bị tự hành thay thế cho máy bay trinh sát truyền thống, pháo cao xạ tầm thấp và các đợt xung phong bộ binh. Drone FPV mang đầu nổ lõm đóng vai trò như tên lửa siêu rẻ có điều khiển, thay thế vai trò chống tăng cận chiến, trong khi đạn tuần kích như Switchblade hay Lancet bay lượn trên không chờ mục tiêu xuất hiện để lao xuống tiêu diệt. Xuồng không người lái mang hàng trăm kilôgam thuốc nổ lao thẳng vào tàu chiến mặt nước, đe dọa sự tồn tại của các hạm đội đắt giá.
Vũ khí dẫn đường chính xác và tên lửa hành trình thay thế cho máy bay ném bom rải thảm và pháo binh bắn theo xác suất kiểu cũ. Bom thông minh như JDAM, SDB và đạn pháo dẫn đường như Excalibur, Krasnopol nhờ GPS, laser hoặc đầu dò hồng ngoại chỉ cần một quả đạn thay vì hàng nghìn quả bom không dẫn đường để tiêu diệt một mục tiêu, còn tên lửa hành trình tầm xa như Storm Shadow, Kalibr hay Tomahawk có thể bắn từ hàng trăm kilômét, bay sát mặt đất để né radar và đánh vào các công trình kiên cố.
Tên lửa siêu thanh thay thế cho đòn tấn công bằng hạm đội tàu sân bay hoặc pháo hạm hạng nặng. Kinzhal của Nga là tên lửa đạn đạo phóng từ máy bay, đạt tốc độ Mach 10 đến 12 ở giai đoạn cuối nhưng vẫn theo quỹ đạo đạn đạo. Zircon là tên lửa hành trình siêu thanh, duy trì tốc độ Mach 8 đến 9 khi bay ở độ cao thấp. DF-17 của Trung Quốc mang phương tiện lượn siêu thanh, có khả năng cơ động ngang tốt hơn hai loại trên dù vẫn có giới hạn nhất định. Cả ba loại đều khiến các hệ thống phòng không hiện đại nhất khó đánh chặn hơn nhiều so với tên lửa đạn đạo thông thường, trực tiếp đe dọa các mục tiêu chiến lược lớn như tàu sân bay.
Hệ thống phòng không tên lửa đa tầng thay thế cho lưới lửa pháo cao xạ truyền thống. Các hệ thống như Patriot, S-400, IRIS-T hay NASAMS phủ sóng bảo vệ bầu trời từ tầm ngắn tới tầm cao, sử dụng radar quét mảng pha chủ động và tên lửa thông minh để tiêu diệt máy bay, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo từ cách xa hàng trăm kilômét.
Vũ khí nhiệt áp và vũ khí năng lượng định hướng thay thế cho súng phun lửa vác vai và vũ khí phá hầm ngầm cơ học. Đạn nhiệt áp như TOS-1A hay RPO-A Shmel tạo ra đám mây nhiên liệu nổ siêu mạnh, rút sạch oxy và tạo chênh lệch áp suất cực lớn để tiêu diệt sinh lực địch trong hầm ngầm hay công sự mà không cần súng phun lửa áp sát, trong khi vũ khí laser và vi sóng đang bắt đầu được thử nghiệm rộng rãi để đốt drone và tên lửa giá rẻ với chi phí mỗi lần bắn chỉ tốn vài USD tiền điện.
Hệ thống bảo vệ chủ động cho xe tăng thay thế cho việc tăng độ dày giáp thép hoặc giáp gốm. Thay vì làm xe tăng nặng thêm hàng chục tấn, các hệ thống như Trophy của Israel hay Arena của Nga dùng radar tiệm cận phát hiện tên lửa hoặc drone đang bay đến và tự động bắn ra các hạt kim loại hoặc đạn nổ nhỏ để đánh chặn đạn đối phương ngay trên không trước khi nó chạm vào giáp xe.
________________________________________
HỆ THỐNG TRINH SÁT VÀ KẾT NỐI CHIẾN TRƯỜNG
Trong các cuộc chiến tranh hiện đại, không có một loại vũ khí đơn lẻ nào là mạnh nhất. Sức mạnh quyết định thắng bại hiện nay là hệ thống kết nối và nhận thức chiến trường. Bản thân quả tên lửa hay đạn pháo dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là nắm đấm, vì nếu không biết kẻ địch ở đâu thì nắm đấm đó hoàn toàn vô dụng, còn vũ khí mạnh nhất hiện nay chính là con mắt và bộ não điều khiển nắm đấm đó.
Hệ thống tình báo, trinh sát và kết nối, thường gọi tắt là C4ISR, là sự kết hợp giữa vệ tinh, drone, trí tuệ nhân tạo và hệ thống truyền dữ liệu thời gian thực. Vệ tinh định vị và quang học kết hợp cùng hàng nghìn drone trinh sát giúp quân đội nhìn thấy mọi chuyển động của đối phương theo thời gian thực, khiến chiến trường trở nên gần như trong suốt. Trí tuệ nhân tạo xử lý hàng nghìn bức ảnh tự động để phát hiện xe tăng, hầm ngầm hay sở chỉ huy địch ẩn nấp dưới tán cây.
Chuỗi tiêu diệt cũng được rút ngắn đáng kể nhờ hệ thống này. Trước đây, từ khi phát hiện địch đến khi bắn pháo mất khoảng 30 đến 60 phút, còn hiện nay nhờ mạng kết nối dữ liệu số, tọa độ từ drone truyền thẳng về máy tính của pháo thủ hoặc drone FPV chỉ trong vài giây, khiến đối phương vừa xuất hiện đã bị tiêu diệt ngay lập tức.
Xét về mặt tiêu hao sinh lực và phá hủy khí tài thực tế, sự kết hợp giữa pháo binh với đạn dẫn đường và drone trinh sát, cùng với drone FPV và đạn tuần kích tấn công trực tiếp, hiện là nguồn gây phần lớn thương vong trong các cuộc xung đột lớn gần đây. Các loại drone giá rẻ, từ vài trăm đến vài nghìn USD, mang đầu nổ có thể truy sát từng người lính hoặc phá hủy xe tăng trị giá hàng triệu USD, tái định hình hoàn toàn khái niệm tác chiến lục quân.
Về mặt răn đe tuyệt đối, tên lửa đạn đạo và tên lửa siêu thanh mang đầu nổ hạt nhân vẫn là sức mạnh tàn phá quy mô lớn nhất để ngăn ngừa chiến tranh tổng lực giữa các cường quốc. Các hệ thống này đảm bảo khả năng hủy diệt lẫn nhau, khiến các cường quốc không thể phát động một cuộc chiến tranh toàn diện trực tiếp mà phải thông qua chiến tranh ủy nhiệm hoặc chiến tranh tiêu hao.
Trong một cuộc chiến dựa quá nhiều vào sóng radio, GPS và drone, tác chiến điện tử trở thành yếu tố then chốt. Hệ thống tác chiến điện tử mạnh có thể làm mù radar đối phương, ngắt sóng điều khiển khiến hàng loạt drone rơi cùng lúc, hoặc làm lệch hướng các quả tên lửa đắt tiền dẫn đường bằng GPS. Vũ khí mạnh nhất hiện đại không nằm ở độ dày của giáp thép hay kích thước quả nổ, mà nằm ở tốc độ truyền thông tin, khi bên nào nhìn thấy đối phương trước, truyền tọa độ nhanh hơn và ra đòn chính xác trước sẽ làm chủ chiến trường.
________________________________________
VÌ SAO SIÊU CƯỜNG KHÔNG THỂ TIÊU DIỆT TOÀN BỘ MỘT QUỐC GIA NHỎ
Việc các siêu cường ngày nay không thể tùy ý xóa sổ toàn bộ một quốc gia nhỏ hơn đến từ hai nhóm nguyên nhân, đó là sự khống chế về thể chế và đạo đức, và các rào cản địa chính trị hoặc chiến lược toàn cầu.
Khác với thời Mông Cổ hay các đế chế cổ đại, khi chiến tranh có thể là cuộc diệt chủng hoặc nô dịch hoàn toàn, các siêu cường phương Tây hay các quốc gia dân chủ ngày nay chịu rào cản rất lớn từ luật pháp quốc tế. Các công ước quốc tế như Công ước Geneva quy định rõ việc bảo vệ dân thường, cấm sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc chiến thuật tiêu diệt diện rộng không phân biệt. Trong một thể chế dân chủ, chính phủ phụ thuộc vào lá phiếu bầu, nên bất kỳ hình ảnh thảm sát dân thường hay thương vong lính nhà tăng cao nào được truyền thông đại chúng đăng tải cũng có thể làm sụp đổ một chính phủ hoặc khiến nhà lãnh đạo mất ghế trong kỳ bầu cử tiếp theo. Xã hội hiện đại cũng có ngưỡng chịu đựng bạo lực thấp hơn nhiều so với thời trung cổ, việc dùng bạo lực vô độ bị coi là tội ác chiến tranh và bị chính người dân trong nước lên án.
Ngay cả khi gác yếu tố đạo đức và dân chủ sang một bên, việc tiêu diệt toàn bộ một quốc gia nhỏ vẫn vấp phải những rào cản chiến lược tự nhiên. Thế giới ngày nay là một mạng lưới chằng chịt, nên việc một siêu cường ra đòn tàn bạo để tiêu diệt một nước nhỏ sẽ kích hoạt sự can thiệp từ các siêu cường đối lập vì lo sợ mất cân bằng quyền lực, và rủi ro này có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân toàn diện, nơi cả thế giới cùng hủy diệt. San phẳng một vùng đất thì dễ, nhưng quản trị và chiếm đóng một vùng đất đầy lòng căm thù lại vô cùng tốn kém, khiến một quốc gia bị tàn phá hoàn toàn không tạo ra giá trị kinh tế mà ngược lại trở thành gánh nặng vĩnh viễn cho bên chiếm đóng. Một quốc gia hành xử theo kiểu đế chế cổ đại ngày nay sẽ lập tức bị toàn bộ thế giới cấm vận kinh tế, cắt đứt thương mại và phong tỏa tài sản, và trong nền kinh tế toàn cầu hóa, việc bị cô lập triệt để sẽ làm suy sụp nền kinh tế của chính siêu cường đó từ bên trong.
Sự xuất hiện của chiến thuật núp trong dân hay chiến tranh du kích đô thị không chỉ lợi dụng lòng nhân đạo của đối phương, mà còn là sự thích nghi sinh tồn tự nhiên. Khi chênh lệch về công nghệ như vệ tinh, bom thông minh hay tiêm kích quá lớn, bên yếu hơn buộc phải triệt tiêu khoảng cách đó bằng cách kéo bên mạnh hơn vào chiến đấu ở cự ly gần, nơi tên lửa triệu đô hay máy bay tàng hình hoàn toàn mất tác dụng.
Khái niệm chiến thắng ngày nay đã thay đổi, khi sức mạnh quân sự tuyệt đối không còn đồng nghĩa với việc có thể tùy ý áp đặt ý chí. Các siêu cường bị giới hạn không chỉ bởi sợi dây đạo đức và thể chế dân chủ do chính họ tạo ra, mà còn bởi cái giá quá đắt về địa chính trị và kinh tế nếu bước qua ranh giới đó.
Nhận xét
Đăng nhận xét