TẠI SAO XÃ HỘI NHO GIÁO LUÔN NHẤN MẠNH BỀ DƯỚI PHẢI HIẾU VÀ TRUNG VỚI BỀ TRÊN
TẠI SAO XÃ HỘI NHO GIÁO LUÔN NHẤN MẠNH BỀ DƯỚI PHẢI HIẾU VÀ TRUNG VỚI BỀ TRÊN
Trong các xã hội chịu ảnh hưởng sâu của Nho giáo hoặc vận hành theo mô hình độc tài, việc phân chia xã hội theo tôn ti trật tự thường đi kèm một đặc điểm chung: bề dưới phải tuyệt đối tốt với bề trên, bề tôi phải trung với vua, con cái phải phục tùng cha mẹ. Tình cảm gia đình và lòng yêu quê hương vốn là những cảm xúc tự nhiên có sẵn trong mọi nền văn hóa, không cần phải khơi gợi hay chỉ cần nhắc tới là tự hiểu, nhưng ở các xã hội này chúng lại được nhấn mạnh thái quá và một chiều so với các nền văn hóa khác. Tâm lý học xã hội, triết học chính trị và xã hội học đã chỉ ra rằng đây không phải là hiện tượng ngẫu nhiên hay chỉ nằm ở bề nổi của tuyên truyền, mà là kết quả của việc vũ khí hóa có chủ đích các cảm xúc tự nhiên thành công cụ cai trị giá rẻ, giúp bề trên thu về nhiều lợi ích, thậm chí mang tính lạm quyền và ích kỷ.
________________________________________
MÔ HÌNH HIẾU THẢO QUYỀN LỰC
Trong tâm lý học xã hội, nhà nghiên cứu Kuang-Hui Yeh cùng cộng sự đã đề xuất mô hình hiếu đạo kép (Dual Filial Piety Model), phân chia lòng hiếu thảo thành hai dạng khác biệt. Hiếu thảo tương hỗ (reciprocal filial piety) xuất phát từ tình cảm và lòng biết ơn tự nhiên đối với công ơn nuôi dưỡng, chăm sóc, là một quan hệ hai chiều tự nguyện. Hiếu thảo quyền lực (authoritarian filial piety) nhấn mạnh sự phục tùng, tôn trọng tuyệt đối và hy sinh ý chí cá nhân để tuân theo mệnh lệnh của cha mẹ hoặc bề trên, theo đúng tôn ti trật tự xã hội quy định (3).
Các nghiên cứu dựa trên mô hình này cho thấy hiếu thảo quyền lực có tương quan thuận với niềm tin vào tính chính đáng của quyền uy và nghĩa vụ phải phục tùng bề trên. Đặc điểm này gần với chân dung tâm lý mà lý thuyết nhân cách độc đoán (authoritarian personality), do nhóm Theodor Adorno đưa ra từ giữa thế kỷ 20, mô tả: một cá thể vừa dễ dàng khuất phục trước quyền lực được coi là chính danh, vừa có xu hướng khắt khe hoặc gây hấn với những ai khác biệt, bất tuân hay ở vị thế yếu hơn (4). Các thể chế phong kiến hoặc toàn trị có xu hướng triệt hạ khía cạnh tương hỗ và đẩy khía cạnh quyền lực lên thành chuẩn mực duy nhất, khiến gia đình trở thành môi trường đầu tiên huấn luyện cá nhân chấp nhận sự bất bình đẳng và tính vô điều kiện của quyền lực, trước khi cá nhân đó bước ra xã hội rộng lớn hơn.
Mô hình hiếu đạo kép là một khung phân tích tâm lý học hiện đại, không phải là sự phân chia có sẵn trong kinh điển Nho giáo, nhưng việc đặt hiếu làm gốc rồi nối hiếu với trung có gốc rễ trong chính văn bản Nho giáo. Hiếu Kinh viết: "phù hiếu, đức chi bản dã, giáo chi sở do sinh dã" (hiếu là gốc của đức, sự giáo hóa do đó mà sinh ra) (1). Trong Luận Ngữ, thiên Học Nhi, Hữu Tử, một đệ tử của Khổng Tử, cũng đặt hiếu đễ làm gốc của đạo làm người, khi nói: "hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư" (hiếu đễ chẳng phải là gốc của đạo làm người hay sao) (2). Nho giáo, đặc biệt từ thời Hán về sau khi trở thành ý thức hệ chính thống, gắn liền chữ hiếu với chữ trung, đồng nhất lòng yêu thương cha mẹ với lòng trung thành với nhà vua, coi nhà vua như bậc phụ huynh của cả cộng đồng.
________________________________________
CHUYỂN DI ĐỐI TƯỢNG: TỪ ĐẤT NƯỚC ĐẾN CHÍNH QUYỀN
Cùng một cơ chế ấy còn xuất hiện ở quy mô lớn hơn, khi đối tượng đòi hỏi lòng trung thành không còn là cha mẹ trong một gia đình mà là cả một quốc gia. Tình yêu quê hương, xét về bản chất, là sự gắn kết với nơi chốn, văn hóa, cộng đồng và lối sống. Trong tâm lý học chính trị, các thể chế độc tài thường thực hiện một kỹ thuật có thể gọi là chuyển di đối tượng: cố tình xóa mờ ranh giới giữa ba khái niệm riêng biệt là đất nước, nhà nước và chính quyền hay giai cấp cầm quyền.
Tình yêu đất nước là thứ có sẵn trong lòng dân. Bằng cách đồng nhất chính quyền với đất nước, chính quyền vay mượn toàn bộ nguồn năng lượng cảm xúc tự nhiên đó để biến nó thành lòng trung thành dành riêng cho bộ máy cầm quyền. Hệ quả là bất kỳ ai phản đối chính sách hay hành vi của chính quyền cũng có thể ngay lập tức bị quy buộc là "không yêu nước" hay "phản quốc", dù đối tượng họ phản đối thực chất chỉ là một nhóm người đang nắm quyền lực trong một giai đoạn nhất định.
________________________________________
ĐẠO ĐỨC HÓA THỨ BẬC VÀ SỰ TRIỆT TIÊU TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH
Việc đánh đồng chính quyền với đất nước không chỉ dừng ở một kỹ thuật ngôn từ, mà còn bắt nguồn từ một lựa chọn sâu hơn về khung quan hệ giữa chính quyền và người dân. Về quản trị xã hội, có thể phân biệt hai mô hình chính. Mô hình hợp đồng xã hội xây dựng quan hệ giữa dân và chính quyền dựa trên quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý đối ứng: dân nộp thuế, chính quyền cung cấp dịch vụ công và bảo vệ quyền lợi, nếu chính quyền làm không tốt thì dân có quyền chỉ trích hoặc thay thế. Mô hình đạo đức thứ bậc thì thay hợp đồng pháp lý hai chiều bằng khung đạo đức gia đình, trong đó nhà cầm quyền tự đặt mình vào vị trí của bậc cha mẹ.
Khi chính quyền đóng vai "cha mẹ" của dân, mọi yêu cầu minh bạch hay phản biện từ người dân bị gán nhãn đạo đức là bất hiếu, xấc xược, hỗn láo, bởi trong gia đình truyền thống con cái không thể "sa thải" cha mẹ hay yêu cầu cha mẹ giải trình tài chính. Cách đóng khung này giúp triệt tiêu quyền đòi hỏi giải trình của người dân đối với người cầm quyền. Đồng thời, việc duy trì bộ máy cảnh sát hay trị an để kiểm soát xã hội vốn rất tốn kém, trong khi việc nhồi sọ đạo đức một chiều giúp cơ chế kiểm soát được nội tâm hóa vào bên trong tâm trí người dân: người dân tự dè dặt, tự kiểm duyệt bản thân và kiểm soát lẫn nhau, khiến chính quyền không cần tốn nhiều chi phí cai trị.
Cách gọi quan lại là "quan phụ mẫu", tức cha mẹ của dân, là hình ảnh tu từ được dùng phổ biến trong cách xưng hô truyền thống và chính là biểu hiện cụ thể của mô hình đạo đức thứ bậc này trong lịch sử hành chính Việt Nam: người dân được kỳ vọng nhìn nhận quan lại như bậc sinh thành đáng kính trọng và phục tùng, còn quan lại tự đặt mình vào vị trí đó để đòi hỏi sự phục tùng ấy như một lẽ đương nhiên.
________________________________________
KHAI THÁC NGUỒN CẢM XÚC TỰ NHIÊN VỚI CHI PHÍ THẤP
Tình cảm gia đình và lòng yêu quê hương là nguồn tài nguyên tự nhiên tự sinh ra mà chính quyền không tốn chi phí để tạo lập. Mancur Olson không phân tích trực tiếp hiện tượng này, nhưng logic ông đưa ra khi nghiên cứu hành động tập thể, tức vấn đề "kẻ ăn theo" (free-rider problem), theo đó cá nhân có xu hướng hưởng lợi từ một nguồn lực chung mà không phải bỏ chi phí tạo ra nó (5), có thể mở rộng để mô tả hiện tượng này ở chiều ngược lại: thay vì cá nhân ăn theo tập thể, chính chính quyền mới là bên khai thác miễn phí nguồn cảm xúc tự nhiên của dân chúng.
Bằng cách liên tục tuyên truyền và kích hoạt lòng hiếu thảo hay lòng yêu nước, chính quyền thu hút được sự hy sinh vô điều kiện của dân chúng, gồm sức người, sức của và sự cam chịu, mà không cần phải chi trả tương xứng bằng việc nâng cao chất lượng sống hay mở rộng quyền tự do cho người dân. Động cơ sâu xa của việc tuyên truyền hiếu và trung một chiều hay kích động lòng yêu nước quá đà là nhằm tối đa hóa sự phục tùng của bề dưới, tối thiểu hóa trách nhiệm giải trình của bề trên, và củng cố sự an toàn cho giai cấp nắm quyền với chi phí thấp nhất.
________________________________________
NGUỒN TÀI LIỆU
(1) Hiếu Kinh, chương 1 (Khai tông minh nghĩa).
(2) Luận Ngữ, thiên Học Nhi, chương 1.2 (lời Hữu Tử).
(3) Yeh, K.-H., & Bedford, O. (2003). A test of the Dual Filial Piety Model. Asian Journal of Social Psychology, 6(3), 215-228.
(4) Adorno, T. W., Frenkel-Brunswik, E., Levinson, D. J., & Sanford, R. N. (1950). The Authoritarian Personality. Harper & Brothers.
(5) Olson, M. (1965). The Logic of Collective Action: Public Goods and the Theory of Groups. Harvard University Press.
Nhận xét
Đăng nhận xét