Cái đạo của Khổng Tử lợi cho giai cấp thống trị như thế nên đối với giới cầm quyền cao nhất, nó có giá trị ở chỗ “Trị quốc - bình thiên hạ”. Còn đối với hạng bình dân và kẻ sĩ, đạo ấy gieo rắc giá trị “tu thân – tề gia”. Trên lý thuyết, giới cầm quyền chóp bu đứng trên thiên hạ thì vẫn có thể “tu thân”, nếu họ muốn nên người. Nhưng có ai muốn “nên người” bao giờ, khi đang là vua, cái tột đỉnh của mọi ao ước trong thiên hạ (quyền lực).
“Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận”. Nho giáo chủ trương ôn nhu, lấy nhân nghĩa trị nước. Văn Đế không nhân đức nhưng cũng có “tính tình ôn nhu, nhân kiệm: bỏ nhục hình, bỏ lễ cống, miễn thuế ruộng đất…có thể nói là theo gần đúng chính sách trị dân của nhà Nho”, Nhưng chính sách đó không thực là hợp thời. Sao vậy? Sau thời Chiến Quốc dai dẳng, đến nhà Tần hà khắc, rồi Cao Tổ tranh chiến khốc liệt với Hạng Vũ mới bình định được giang sơn, lúc này thì dân chúng đã quá khốn cùng, xã hội hết sức tang thương, vậy chính sách ôn nhu của Văn Đế như trận mưa rào sau cơn hạn hán là đúng chứ, sao lại không thực là hợp thời? Sự thật thì Văn Đế là người nhu nhược, yếu hèn, không đủ dũng lược nên chọn con đường dễ dãi, tiêu cực, chứ không phải một kẻ hùng tài thiện tâm đeo đuổi chính sách nhân nghĩa của Nho giáo. Nietzsche nói: “Thiện là không làm cái gì mà ta không đủ sức mạnh để làm khác”.
Sự tệ hại của học thuyết Khổng Tử nằm ở chỗ nói rất hay, nghe rất êm vì nó kêu gọi sự thiện tâm như một tôn giáo. Nhưng nó không rõ ràng như tôn giáo khi giới cầm quyền cao nhất không bao giờ là môn sinh hay môn đồ/giáo dân của Khổng giáo. Ngược lại, kẻ cầm quyền cao nhất có giá trị như thượng đế (thiên tử) để “thiên hạ” cúc cung tận tụy suốt đời. Khổng giáo chủ trương “quân – sư – phụ”, kẻ cầm quyền là tối thượng, giới bình dân muôn đời chỉ là “dân đen” bởi cái thuyết chính danh (vua ra vua, tôi ra tôi). Ðiều này khiến mị dân trở thành thông lệ của các thể chế, chính khách và kẻ cầm quyền. Do nó luôn hữu dụng trong xã hội, nên kẻ nào lên cầm quyền cũng muốn lợi dụng và xiển dương học thuyết của Khổng Tử.
Vương Mãng là dòng dõi của Lưu Văn Long, thi đỗ trạng nguyên đời Hán Nguyên Đế, được cử hộ tống Vương Chiêu quân đi cống Hồ, được Chiêu quân nhận làm ngự đệ và đổi họ ra Vương Văn Long. Khi trở về thì được ban thưởng, các con cháu trong dòng họ đều được quan sang chức trọng cả.
Đến cuối đời Tây Hán là Hiếu Bình Hoàng đế, Vương Mãng nổi lên thoáng đoạt. Trong triều một phần theo Vương Mãng. Khi tiếm quyền vong, Vương Mãng cũng biết thu phục nhân tâm bằng cách “mở nhà Minh-đường, nhà Tích-ung, nhà Linh-đài và làm ra hàng vạn gian nhà cho học sinh ở”. [Triết học và tôn giáo phương Đông]
Không thể chối bỏ giá trị văn hóa của Khổng Tử trong quá khứ. Những gì có lý nó sẽ tồn tại. Sau hơn hai nghìn năm, nó vẫn khiến chúng ta bàn thảo thì rõ ràng không cần phải đính chính điều này nữa. Nhưng ai nói chúng ta không có quyền phê phán, đã kích anh hùng và vĩ nhân? Có quyền quá đi chứ. Một người dân bình thường làm sai, một mình họ chịu hậu quả. Một anh hùng – vĩ nhân làm sai, muôn đời tha nhân gánh chịu mà không bị một lời phàn nàn sao? Cái khốn nạn của tha nhân là cúi đầu tôn thờ thần tượng, không ngước mặt lên khiến không chỉ họ, mà con cháu đời sau, mãi mãi khổ đau mà không biết vì sao. Lý Thường Kiệt, một anh hùng dân tộc tiến quân như vũ bão, chiếm Khâm, Liêm và vây hãm Ung châu với cái lý: Đánh tan nhuệ khí và khí tài quân sự, để kẻ thù không còn khả năng lăm le nhòm ngó đất Việt. Nhưng không như tướng lý nói, chỉ ngay năm sau, nhà Tống đã đem đại quân xâm chiếm lãnh thổ Việt, và suýt chút nữa người Việt lại phải sống kiếp nô lệ, nếu như trận trên sông Như Nguyệt, quân dân Việt không gian khổ quyết chiến. Đây không phải là một sai lầm quân sự của Vị anh hùng Lý Thường Kiệt sao? Lịch sử vì nhiều lý do đã không nói được điều này, còn chúng ta thì sao? Có quyền nhìn thẳng vào lịch sử không? Nếu không dám nhìn, lịch sử dân tộc không chỉ Việt, mà còn nhiều quốc gia khác có thể đã xấu đi nhiều rồi.
Tạ Chí Đại Trường, nhà nghiên cứu lịch sử Việt viết trong “Sex và triều đại”:
Rõ ràng từ triều (Hậu) Lê, nhất là từ Lê Thánh Tông (làm vua 1460 – 1497), ý thức hệ Nho giáo đã được chấp nhận là chính thống từ trên tột đỉnh quyền hành – ít ra là trên đại thể và lý thuyết, để hướng dẫn tổ chức chính trị và cách hành xử cá nhân. Thánh Tông như đã tìm được ở Tống Nho một lý thuyết, một phương tiện xóa bỏ sự cách biệt giữa dòng giống Mường Thái của nhà mình để trị đám quan dân trung châu của Trần còn lưu luyến chủ cũ …
Quy chế Lễ của Khổng Tử rất gắt gao trong việc phân biệt giao tiếp trai, gái. Nam nữ không được ngồi lẫn lộn với nhau, không treo quần áo cùng chỗ, không dùng chung khăn lược, không trao vật gì tận tay … Thánh Tông lại muốn vươn lễ giáo đến các dân tộc thiểu số nên sắc chỉ 1470 cũng nhắc đến việc trị tội những người Man lấy vợ cả, vợ lẽ của anh em đã chết rồi, cho là phạm đến luân thường đạo lý…
(tuy nhiên) Lê Thánh Tông với tam cung lục viện không màng đến việc sử quan chê ham mê tửu sắc, bởi cho mình có quyền đó nhưng không ngờ con cháu còn ngon lành hơn. Lê Tương Dực tuy để các quan ra văn thư làm phép khuôn mẫu cho việc trị bình muôn đời, cấm các quan không được sai người dắt mối đĩ để vui chơi, nhưng có sẵn người thì cũng không nề hà gì mà không thụ hưởng. Vua “sai bọn nữ sử (đàn bà con gái trong cung) trần truồng chèo thuyền chơi trên hồ Tây … vua cùng đi chơi thích lắm!”. (“Chuyện phiếm sử học”, nxb Tri Thức – 1916)
Ngoài những giá trị văn hóa (rất ít), con người chính trị của Khổng Tử cũng đã gây nên không biết bao nhiêu tác hại cho các lân bang và hậu thế. Lịch sử một thế kỷ Bắc thuộc của dân tộc Việt há không phải bởi học thuyết “bình thiên hạ” của Khổng Tử đó ư? Có lúc chúng ta phải tự hỏi, tại sao cái văn hóa lấy “dân làm gốc” như: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” lại có thể đem nhiều đau khổ đến cho nhân loại như thế? Rồi tự trả lời: Thì ra, cái đạo nhân văn “quân-sư-phụ” ấy của Khổng Tử chưa và không bao giờ nhắm vào những cấp bậc chóp bu của xã hội, các vua chúa và bọn cầm quyền cấp cao nhất, vì thế không bao giờ chúng là nho sinh hay môn sinh của Khổng giáo. Nhưng bọn họ luôn biết giá trị ru ngủ của nó, và không dại gì không tạo điều kiện cho nó phát triển. Nguyễn Hiến Lê viết về Hán Vũ đế như sau:
“Vũ đế theo Pháp gia, nhưng để vỗ về bọn Nho gia, vẫn đề cao nhân nghĩa, ra vẻ tôn trọng Khổng giáo, như trường hợp Vũ đế. Ông ra và nhận của Đổng Trọng Thư ba bài sách, khen lời đối sách là phải (chủ trương của Đổng là chủ trương của Khổng), nhưng rồi chỉ giao cho Đổng một chức phụ tướng giúp Dịch vương (anh Vũ đế) cai trị đất Giang Tô, chứ không được ở triều đình” [Sử ký Tư Mã Thiên – NXB VH – 2011].
Giáo trong Khổng giáo hay Nho giáo không phải là tôn giáo, nó mang hàm ý giáo dục hay giáo hóa thì đúng hơn. Bản thân cá nhân của Khổng Tử cũng chưa hề mong muốn điều đó, chí ít cũng trong trước tác của mình. Còn nhân cách cá nhân ông không đủ lớn, để hậu sinh suy tôn là giáo chủ. Người ta suy tôn “vạn thế sư biểu” là quá đủ vinh hạnh cho ông rồi. Nhìn theo giá trị ngày nay, Khổng Tử cũng khó dạy ai cho ra hồn khi tính cách của ông thiên quá nặng về sự tham chính, một nghề mà Trang Tử khi được Uy Vương nước Sở nghe tiếng là người hiền, sai sứ mang hậu lễ đến đón ông về triều làm tể tướng. Trang Tử bảo với sứ giả vua Sở rằng: “Nghìn vàng là lợi to, khanh tướng là ngôi quý. Nhưng ông không thấy con bò lúc tế giao hay sao? Nó được cho ăn mấy năm, được mặc đồ vóc thêu để đưa vào nhà Thái miếu. Lúc bấy giờ nó muốn làm con lợn nhỏ có được không? Ông đi ngay cho, đừng làm bẩn đến tai ta. Ta chỉ chơi đùa nơi ngòi vũng để tự vui, không để cho kẻ có nước trói buộc, trọn đời không ra làm quan để thỏa chí ta”.
Nhận xét
Đăng nhận xét