SAU 1954, LÃNH SỰ QUÁN MỸ VẪN Ở LẠI HÀ NỘI — CHO ĐẾN KHI BỊ BUỘC PHẢI RỜI ĐI

SAU 1954, LÃNH SỰ QUÁN MỸ VẪN Ở LẠI HÀ NỘI — CHO ĐẾN KHI BỊ BUỘC PHẢI RỜI ĐI. Khi quân đội Pháp rời khỏi Hà Nội, lãnh sự quán Mỹ tiếp nhận được một điện tín kỳ dị từ Hoa Thạnh Đốn: "Hãy mở cửa, chúng ta không công nhận Hiệp định Genève và cũng không thừa nhận sự phân chia nước Việt Nam". Vậy là lãnh sự quán Mỹ ở Hà Nội vẫn mở cửa. Hoa Thạnh Đốn đã gửi 4 nhân vật chưa có gia đình tới đảm nhận chức vụ: ông lãnh sự Thomas Corcoran, người hiền lành và trầm tỉnh, với 3 nhà ngoại giao trẻ trung đi theo ông, sẵn sàng cho mọi cuộc phiêu lưu. CUỘC ĐẠI PHIÊU LƯU KHỞI SỰ Cuộc đại phiêu lưu khởi sự ngay từ khi quân đội Việt cộng vào châu thành. Các binh sỹ Việt cộng trông thấy lá quốc kỳ Mỹ bay phất phới ở trước cửa lãnh sự quán rất lấy làm ngạc nhiên. Ông lãnh sự Corcoran hút thuốc một cách điềm nhiên ở trước cửa lãnh sự quán như không có điều gì quan trọng xảy ra. Đại tá Việt cộng Hà Văn Lâu chỉ huy khu Hà Nội lập tức phái ba bộ đội tới canh gác trước lãnh sự quán. Các bộ đội nhỏ mặc sắc phục màu xanh lá cây đi bách bộ ở trên lề đường, súng tiểu liên nhắm thẳng phía trước mặt họ. Lá cờ Mỹ vẫn phe phẩy. Cuộc bao vây lãnh sự quán khởi sự. Cuộc bao vây kéo dài hơn một năm. DỰ TRỮ RƯỢU WHISKY VÀ BỘT MỲ ỐNG Là một nhân vật khôn ngoan và thận trọng, ông lãnh sự Corcoran đã đề phòng trước khi Việt cộng tới. Ông đã cho đào một cái giếng ở trong vườn lãnh sự quán để dự trữ xăng dầu. Tất cả các cửa kiếng đều có đặt song sắt. Ở phía cuối vườn thì trữ củi để nấu bếp và để sưởi trong mùa đông. Trong tiệm buôn lớn ở Hà Nội không còn bán đồ gì nữa. Ông lãnh sự cho đem từ Sài Gòn ra rất nhiều đồ hộp, bột mì ống, và cả rượu Whisky nữa, để giúp phấn khởi tinh thần. Ngoài ra, ông cũng không quên dự trữ ít kí lô thuốc hút và một lô gồm những cuốn tiểu thuyết trinh thám để giết thì giờ. Những ngày vị lai trông có vẻ kỳ lạ. SỨ QUÁN KHÔNG ĐƯỢC DUNG NẠP Phản động lực đầu tiên của Việt Cộng là đòi đóng cửa lãnh sự quán một cách rầm rỉ, cho rằng sự hiện diện của nó là một sự khiêu khích không thể tha thứ được! Lãnh sự quán không màng đến sự bão tố và vẫn mở cửa. Việt cộng gia tăng các cuộc công kích trên mặt báo chí và trên đài phát thanh. Họ hỏi Ủy ban kiểm soát quốc tế. Ủy ban quốc tế trả lời rằng lãnh sự quán có thể vẫn được mở cửa vì Hiệp ước Genève không chánh thức thừa nhận sự tồn tại một tân quốc gia ở Bắc Việt Nam, mà chỉ thừa nhận sự hiện diện của một ban hành chánh dân sự đại diện bộ tổng tư lịnh Việt cộng. Các cuộc công kích thôi hẳn nhưng Việt cộng vẫn kiếm cách để xua đuổi vị lãnh sự mà họ cho là không thể dung nạp được. Sự nhẫn nại của ông Corcoran rất lớn lao, còn lớn lao hơn cả sự nhẫn nại của Việt cộng. Ở lãnh sự quán không có việc gì làm cả, không phải tiếp khách, không phải cấp giấy thông hành cho ai cả, không có những buổi lễ chánh thức phải đi dự. Ông lãnh sự và 3 nhơn viên quay ra học tiếng Việt. Vấn đề học Việt ngữ rất có ích vì để đọc báo chí cho biết những điều xảy ra ở trong châu thành. Ngày tháng trôi qua, đồ dự trữ hao mòn. Lãnh sự quán vẫn mở cửa. Phương tiện duy nhứt để liên lạc với thế giới bên ngoài là cái máy vô tuyến điện, qua làn sóng điện ngắn. Thông tin với Sài Gòn để trao đổi các tin tức với đại sứ quán. HOA THẠNH ĐỐN RA LỊNH RÚT ĐI Sau 11 tháng, lãnh sự quán được phía Việt cộng yêu cầu ngưng lập tức những buổi phát thanh. Sự liên lạc sau cùng với thế giới bên ngoài không còn nữa. Người ta uống hết những chai Whisky sau chót và hút hết những điếu thuốc còn lại. Các đồ dự trữ hao mòn. Ông lãnh sự và 3 nhơn viên không ra khỏi Hà Nội thêm một lần nào và tránh không đi ở ngoài phố khi trời vừa sập tối. Rốt cuộc, Hoa Thạnh Đốn ra hiệu lệnh rút đi. Những sự khó khăn nay lại bắt đầu. Phải có giấy thông hành ra khỏi Hà Nội. Ủy ban quân chánh của Hà Nội không gấp rút cấp giấy tờ cho lãnh sự quán Mỹ. Phải đến tháng 12/1955 thì sứ quán mới đóng cửa. ==================== Sau đây là những gì ông đại sứ Thomas Corcoran thuật lại vào năm 1988: "Điều chính yếu là nhấn mạnh rằng chúng tôi không rút lui và không xem Hội nghị Genève là kết thúc mọi chuyện. Đó chỉ là một lệnh ngừng bắn. Chúng tôi sẽ chờ xem tình hình diễn biến thế nào. Chúng tôi ủng hộ chính quyền miền Nam, nhưng vẫn giữ đại diện lãnh sự ở miền Bắc. Theo truyền thống và phong tục, những người nắm quyền lực thực sự ở miền Bắc, tức là phe Cộng sản, có thể đã trục xuất chúng tôi nếu họ muốn. Nhưng thay vào đó, họ chỉ tuyên bố rằng họ không công nhận chúng tôi. Tuy nhiên, thực tế là chúng tôi vẫn tồn tại, chúng tôi có nhân viên, có các tòa nhà – hai tòa nhà mà chúng tôi sở hữu và một vài tòa khác mà chúng tôi thuê để duy trì chỗ đứng, và có người rải ra ở các nơi. Chúng tôi tuân thủ giờ giới nghiêm, trả tiền điện và các chi phí tương tự. Nhưng mục tiêu chính của chúng tôi là chờ xem tình hình, thay vì leo lên máy bay và rời đi. Thực tế là họ đã làm việc với chúng tôi thông qua Ủy ban Quân sự và Hành chính Hà Nội, một dạng chính quyền địa phương với cả chức năng quân sự và dân sự. Có một lần, họ thực sự đưa quân lính vào nhà tôi khi chuẩn bị cho một cuộc diễu hành. Nhà tôi nằm trên quảng trường lớn Ba Đình, nơi hiện nay là lăng Hồ Chí Minh. Tôi bị đánh thức giữa đêm bởi người giúp việc, thông báo rằng Việt Minh đã đến. Họ giải thích rằng để chuẩn bị cho cuộc diễu hành vào ngày hôm sau, họ cần đặt quân và súng máy trên mái nhà. Tôi nói, "À, tôi cho rằng tôi không thể cãi lại điều đó", và cho phép họ lên mái nhà. Tôi yêu cầu họ sử dụng cầu thang sau và không vào nhà, và họ đã tuân thủ. Họ ở lại cho đến khi cuộc diễu hành kết thúc. Họ cũng làm tương tự với một số tòa nhà khác trong khu vực. Khi cuộc diễu hành diễn ra, tôi đã ra ngoài xem và một cảnh sát cộng sản nói tiếng Pháp đã cung cấp cho tôi diễn giải trực tiếp về những gì đang diễn ra, rõ ràng là từ bộ phận tuyên truyền. Vì vậy, một lần nữa, họ biết chúng tôi là ai và chúng tôi đang làm gì. Như tôi đã nói, chúng tôi rất cẩn thận để không làm bất cứ điều gì mờ ám hay mang tính lật đổ. Trong tình hình hồi ấy, điều đó là vô vọng. Mục tiêu chính của chúng tôi chỉ là ở lại và duy trì khả năng đối phó với bất kỳ điều gì xảy ra. Theo thời gian, sự khác biệt trong cách họ đối xử với chúng tôi so với các đại diện phi Cộng sản khác dần hiện rõ. Có lãnh sự Anh, người mà như tôi đã đề cập, là một đặc phái viên của Anthony Eden, đồng chủ tịch Hội nghị Genève. Có phái bộ Sainteny của Pháp (bí danh chiến đấu của ông ấy), người được thủ tướng Pháp Mendes France trực tiếp ủy thác với chính quyền Bắc Việt. Ngoài ra còn có các phái đoàn Ấn Độ, Canada, và Ba Lan trong Ủy ban Giám sát và Kiểm soát quốc tế. Rồi có một dịp thủ tướng Nehru của Ấn Độ tới thăm, và tôi có gặp mặt ông ấy. Một hôm có một buổi tiếp tân được tổ chức bởi đoàn Ấn Độ. Họ mời cả tôi và đại diện của Bắc Việt. Phía chính quyền Bắc Việt đòi phải cho họ xem trước danh sách khách mời. Khi họ thấy tên tôi, họ nói rằng họ sẽ không tham dự. Tôi không muốn làm phía Ấn Độ phải khó xử, nên đã nói với họ rằng: "Thôi quên chuyện đó đi, tôi không dự cũng được". Người bạn Ấn Độ của tôi nói rằng: "Nhưng mà vậy cũng không được đâu. Họ sẽ kêu tôi chứng minh rằng ông sẽ không tham dự". Tôi mới nói rằng: "Được rồi. Vậy để tôi viết cho anh một lá thư, nói rằng tôi bị ốm về mặt ngoại giao". Và tôi đã viết thật, và nó giải quyết được chuyện đó. Tôi cũng có đi xem một phần của một phiên xử cải cách ruộng đất ở Hà Nội, và xem tin tức trên báo chí về các vụ xử khác, chủ yếu là kết tội họ là tư sản bóc lột dân nghèo. Lúc đó tôi không nhận ra, nhưng sau này tôi mới biết rằng rất nhiều người bị giết oan, và tiêu chuẩn thế nào là địa chủ ở mỗi địa phương mỗi khác nhau. Chúng tôi ở đó tổng cộng 14 tháng. Chúng tôi rời đi vào đầu tháng 12/1955. Nhưng vào tháng 9, chúng tôi đã thấy dấu hiệu của sự thắt chặt. Ví dụ, họ yêu cầu tất cả chúng tôi, bao gồm cả người Mỹ, phải đăng ký với chính quyền như người nước ngoài. Họ gửi cho chúng tôi một biểu mẫu lớn, cỡ bằng tấm bản đồ kia. Phải điền vào đó tất cả thông tin cá nhân của mình và những thứ tương tự. Chúng tôi nhận ra rằng đây là bước đầu tiên để siết chặt chúng tôi. Sau đó, họ muốn đến và phỏng vấn từng người Mỹ. Tôi đồng ý, nhưng với điều kiện tôi sẽ ngồi trong tất cả các cuộc thẩm vấn như thể đó là cuộc thẩm vấn của chính tôi, và họ đã đồng ý. Họ đặt những câu hỏi phiền toái, và sau một lúc, tôi bắt đầu can thiệp. Họ nói: "Ông đã nói rằng ông không nói được tiếng Việt?" Thực sự, tôi không nói được tiếng Việt, nhưng tôi có thể hiểu được cách họ đang làm, chỉ là chiếm thời gian và quấy rối mọi người mà thôi. Chúng tôi đã điền vào các biểu mẫu đó, và họ kiểm tra nơi chúng tôi ở và thấy chúng tôi có nhiều thiết bị vô tuyến, mà rõ ràng họ đã biết. Chúng tôi đã phát sóng mỗi ngày trong suốt cả năm qua vì đó là phương tiện liên lạc duy nhất của chúng tôi. Chúng tôi không thể dùng thư tín. Vì vậy, tôi có thể cảm nhận được qua giọng điệu này rằng điều gì đó sắp xảy ra. Ngay từ đầu, sau khi người Anh bắt đầu thực hiện các chuyến đi, chúng tôi đã xin phép để đưa người ra vào. Không ai trong số họ được chấp thuận hoặc từ chối, nhưng chúng tôi đã nhận được một chiến dịch bôi nhọ như là câu trả lời duy nhất, vì vậy chúng tôi cứ mặc kệ nó; nghĩ rằng chuyện đó có thể chờ được và chúng tôi sẽ dựa vào sóng radio. Nhưng vào thời điểm này, khi những chuyện như kê khai thông tin chi tiết được thực hiện, mọi chuyện trở nên khó khăn. Có một lần, họ đến và quân đội đã cố gắng kiểm tra nơi ở của chúng tôi. Chúng tôi đã yêu cầu họ ra ngoài, và họ đã rời đi. Khi họ vào nhà tôi lần trước, họ có một lý do khá hợp lý, đó là bảo đảm an ninh cho cuộc diễu hành. Họ cũng làm như vậy với người Nga và Ba Lan, cũng như mọi người khác, vì vậy tôi không thể phàn nàn. Nhưng rõ ràng là lần này, họ đã chuẩn bị làm gì đó. Tôi có thể cảm nhận rằng mọi chuyện đang dần bị siết chặt. Chúng tôi đã lập kế hoạch, gửi đi bằng điện tín rằng "nếu điều này xảy ra, chúng tôi sẽ làm thế này thế kia" và cố gắng hủy tài liệu mật, mà thực ra chúng tôi có rất ít. Kể từ đó chúng tôi cố gắng liên lạc bằng các phương thức khác, một mật mã rất đơn giản. Và đúng như dự đoán, tôi cho rằng không quá một tuần sau đó, tôi bị triệu tập vào một ngày mưa tới ủy ban thành phố, và tôi phải đi qua một con phố ngập nước để đến xe của mình. Ủy ban ngồi sau bàn và họ nói, “Chúng tôi triệu tập ông để thông báo rằng ông không được phép sử dụng sóng radio nữa. Hãy ngừng sử dụng nó.” Tôi nói, “Ồ, tôi không biết, chuyện này thú vị đấy. Khi nào lệnh này có hiệu lực vậy?” Họ đáp: “Ngay lập tức.” Tôi quay lại và không sử dụng radio để báo cáo điều đó, vì như vậy sẽ là một cái bẫy kỹ thuật mà tôi tự rơi vào. Thay vào đó, tôi viết một bức điện tín và gửi nó qua bưu điện công cộng, với suy nghĩ rằng nếu chúng tôi có thể tồn tại bằng cách truyền thống như thế, thì cũng không sao. Họ giữ bức điện trong vài ngày và sau đó trả lại mà không gửi, nói rằng không có tuyến đường nào tồn tại, điều này hoàn toàn dối trá, vì họ có các tuyến qua Bắc Kinh và Moscow, rồi ra thế giới bên ngoài và đến Hồng Kông. Vì vậy, tôi đã gửi bản sao cho các đồng nghiệp khác. Và người Anh, những người mà chúng tôi tin rằng sẽ bảo vệ chúng tôi nếu chúng tôi gặp rắc rối, đã gửi bức điện từ phía họ. Người Pháp cũng gửi đi, và người Canada cũng vậy, nên Washington đã nhận được tin. Họ thắc mắc tại sao chúng tôi ngừng phát sóng, nhưng họ cũng nhận được tin khá nhanh. Sau báo cáo ban đầu này, chúng tôi quyết định sẽ chỉ tiếp tục gửi tin tức ra ngoài thông qua người Anh, vì theo truyền thống, chúng tôi hiểu rằng họ sẽ đại diện cho chúng tôi. Tôi đã gửi thông báo qua các kênh khác chỉ để đảm bảo rằng thông tin được truyền đi. Nhưng rõ ràng là chúng tôi phải thực hiện điều này, lập kế hoạch rời đi. Sau đó là vấn đề rời đi. Tôi nghĩ cách hợp lý không phải là hành động kiểu vội vã, tất cả ra đi ngay lập tức. Trong tình huống như vậy, nói thì dễ hơn làm. Tôi nói, "Chúng ta nên đi từ từ." Thực tế, một trong những người Ấn Độ đã nói với tôi, "Tôi chắc chắn họ không thực sự có ý đó. Các anh nên chờ thêm xem sao. Có thể họ muốn các anh ở lại." Tôi đáp, "Tôi sẽ thử." Lý do khác mà tôi muốn thử theo cách đó là tôi không muốn tỏ ra cố gắng một cách tuyệt vọng để có thể rời đi. Tôi đã nghĩ rằng nếu tôi cố gắng bám trụ ở lại, sẽ ít có khả năng họ muốn cầm giữ chúng tôi lại hơn. Vì vậy, chúng tôi đã cho rời đi từng người một, cho đến khi chỉ còn lại tôi với một phó lãnh sự, người cũng là nhân viên hành chính và thủ quỹ. Anh ta là người tôi muốn giữ lại với mình, và cuối cùng, chúng tôi rời đi cùng nhau, bàn giao lại cho người Anh theo đúng thủ tục. Chúng tôi đã hoàn tất việc chuyển giao hai tòa nhà mà chúng tôi sở hữu và chức năng lãnh sự. Với sự chấp thuận của Bộ Ngoại giao, lãnh sự Anh và tôi cùng ký tên chuyển giao. Sau đó, chúng tôi ra sân bay và rời đi. Chúng tôi đã lên kế hoạch với phía Anh, và để lại hai tòa nhà ở đó. Sau này, tôi đoán rằng chúng đã bị chiếm dụng. Nhà tôi được sử dụng bởi một nhà ngoại giao cộng sản nào đó, tôi nghĩ vậy, hoặc bởi một cơ quan của cộng sản. Văn phòng thì trở thành trụ sở của Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam trong nhiều năm. Rồi, thật lạ lùng, khi tôi ở Burundi (châu Phi), có ai đó trong Bộ Ngoại Giao hỏi tôi về thông tin tài sản. Lúc đó là khi Jimmy Carter đang cân nhắc việc mở lại văn phòng ở Việt Nam. Tôi nói, "Hãy xem trong hồ sơ năm 1955. Tất cả đều có ở đó." Họ làm theo. Họ giữ hồ sơ ở Milwaukee hoặc nơi nào đó. Họ nhanh chóng tìm thấy, và có tất cả tài liệu, bản kiểm kê, giấy tờ cho hai tòa nhà, và Bộ Ngoại giao nói rằng phía Việt Nam sẽ cho chúng tôi lấy lại hai tòa nhà đó. Đây là hai tòa nhà mà chúng tôi sở hữu. Chúng tôi đã thuê một số tòa nhà khác chỉ để có thêm các phương án. Họ đã chuyển người ngoại quốc ra ngoài một cách dần dần vào những thời điểm khác nhau. Nhưng các tòa nhà thuê họ chiếm dụng khá nhanh. Hai tòa nhà mà cuối cùng chúng tôi đã bàn giao, mà chúng tôi vẫn giữ quyền sở hữu, chúng tôi đã làm rõ điều đó, nếu không, không có cách nào chúng tôi có thể lấy lại chúng. Tôi nghĩ rằng kế hoạch đang tiến triển để chuyển một dạng đại diện ngoại giao nào đó vào đó. Sau đó, tất nhiên, quân Bắc Việt đã tiến vào Campuchia, nên mọi chuyện chấm dứt. Lời khuyên duy nhất mà tôi đưa ra cho bất kỳ ai ngay sau khi tôi rời đi, và cũng là lời khuyên tôi đưa ra sau này, đó là nếu bạn vào đó với bất kỳ dạng đại diện nào, bạn phải kiên quyết đòi có lãnh thổ riêng của mình. Nhiều quốc gia châu Âu đã hoạt động trong các phòng khách sạn suốt nhiều năm và coi đó là một chiến thắng lớn nếu họ có được thêm một phòng khách sạn thứ hai. Điều này thật phi lý. Bạn không thể hoạt động hiệu quả nếu không có một mức độ không gian nhất định. Chắc chắn cần có không gian và một mức độ an ninh nhất định, dù an ninh sẽ luôn là một vấn đề." (Trong hình là ông Corcoran, ngoài cùng bên phải. Đứng giữa là đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge)

Nhận xét