VÌ SAO MÔNG CỔ THẮNG MÙA ĐÔNG NGA CÒN NAPOLEON VÀ ĐỨC QUỐC XÃ THÌ THUA

VÌ SAO MÔNG CỔ THẮNG MÙA ĐÔNG NGA CÒN NAPOLEON VÀ ĐỨC QUỐC XÃ THÌ THUA Sự khác biệt cốt lõi giữa ba đội quân xâm lược nước Nga trong lịch sử nằm ở chiến thuật hậu cần, khả năng thích nghi môi trường, và tình trạng địa chính trị của nước Nga ở mỗi thời kỳ. Mùa đông Nga là "kẻ thù" của Napoleon và phát xít Đức, nhưng lại là "đồng minh" của kỵ binh Mông Cổ. ________________________________________ CHIẾN DỊCH CHINH PHẠT KIEVAN RUS (1237-1240) Bạt Hãn giữ vai trò tổng chỉ huy danh nghĩa của chiến dịch chinh phạt Kievan Rus từ 1237 đến 1240, còn Tốc Bất Đài là tổng tham mưu và người hoạch định chiến lược, nên sử liệu thường gọi chung lực lượng này là quân Mông Cổ dưới quyền Bạt Hãn và Tốc Bất Đài. Đây là một trong những chiến dịch quân sự mùa đông quy mô lớn và thành công nhất lịch sử thế giới, dựa trên sự kết hợp giữa tình báo địa chính trị, hậu cần thích ứng và nghệ thuật chiến tranh cơ động cao. Tốc Bất Đài không tấn công Rus một cách mù quáng. Khoảng 14 năm trước chiến dịch chính, ông đã trực tiếp thăm dò vùng đất này qua trận sông Kalka năm 1223. Tại đó, bằng chiến thuật giả vờ rút lui dụ đối phương truy kích rồi vòng lại phản công, quân Mông Cổ đánh tan liên quân các công hầu Rus và người Cuman, nhưng ngay sau chiến thắng đã chủ động rút lui vì đây mới là một cuộc trinh sát chứ chưa phải chinh phục. Mạng lưới trinh sát Mông Cổ, gọi là Yam, thu thập chi tiết thông tin về địa hình, hệ thống sông hồ, mạng lưới đường sá, và đặc biệt là sự chia rẽ nội bộ giữa các đại công quốc Rus như Vladimir-Suzdal, Novgorod, Ryazan, Kiev. Kievan Rus khi đó là một liên bang lỏng lẻo gồm hàng chục công quốc nhỏ dưới sự lãnh đạo danh nghĩa của Kiev, luôn xung đột lẫn nhau, không có bộ chỉ huy thống nhất và thường từ chối cứu viện lẫn nhau khi bị tấn công lẻ tẻ, nên Tốc Bất Đài áp dụng chiến thuật chia rẽ, tiêu diệt từng công quốc một mà không gặp phải sự kháng cự hợp lực nào. Chiến dịch không diễn ra liên tục suốt nhiều mùa đông mà chia làm hai đợt lớn, xen giữa là một giai đoạn nghỉ. Mùa đông 1237-1238, quân Mông Cổ đánh chiếm Đông Bắc Rus, phá hủy Ryazan, Vladimir, Moskva và đánh bại Đại công tước Yuri II tại sông Sit, sau đó rút về vùng thảo nguyên phía Nam để nghỉ ngơi, chăn thả ngựa và tái tập hợp lực lượng. Đợt tấn công thứ hai vào Nam Rus diễn ra năm 1239-1240, với các thành phố Pereyaslav và Chernigov thất thủ, và khép lại bằng cuộc vây hãm Kiev từ 28 tháng 11 đến 6 tháng 12 năm 1240, khiến thành phố lớn nhất Rus khi đó bị tàn phá nặng nề. Người Mông Cổ sinh ra và lớn lên ở vùng thảo nguyên Mông Cổ lạnh giá, từ âm 30 đến âm 40 độ C, nên cái lạnh của Nga không phải điều bỡ ngỡ, và họ chủ động chọn tấn công vào mùa đông. Thời tiết mùa đông Nga, từ âm 20 đến âm 30 độ C, vốn là thảm họa với các quân đội truyền thống, nhưng được Tốc Bất Đài biến thành vũ khí tối thượng. Địa hình Rus đầy đầm lầy, rừng rậm và sông ngòi ngắt quãng là trở ngại cực lớn vào mùa hè, nhưng khi mùa đông đến, mặt sông và đầm lầy đóng băng cứng tạo thành các tuyến đường bằng phẳng, cho phép kỵ binh di chuyển với tốc độ tối đa. Ngựa Mông Cổ có khả năng cào tuyết tìm cỏ khô ăn, gọi là tebenovka, nên không cần nguồn ngũ cốc tiếp tế khổng lồ từ hậu phương như ngựa phương Tây. Cung phản trắc được chế tạo từ gỗ, sừng và gân dán bằng keo động vật, kết hợp với trang bị da thú và lót bông dày cho binh lính, còn ngựa chiến được đóng móng sắt đặc biệt để chạy trên băng mà không bị trượt. Các ước tính về quy mô chiến dịch Kievan Rus dao động khá lớn, phổ biến nhất là khoảng 35.000 đến 50.000 kỵ binh chia thành nhiều tumen, đơn vị 10.000 người, dù một số nguồn đưa ra con số cao hơn nếu tính cả bộ binh, kỹ sư công thành và lực lượng đồng minh. Mỗi binh sĩ mang theo 3 đến 5 con ngựa để thay đổi liên tục trên đường đi, cho phép những đợt hành quân gấp hoặc truy kích ngắn đạt tốc độ tối đa 80 đến 100 km một ngày, dù tốc độ trung bình của cả chiến dịch thấp hơn nhiều do còn phải vây thành, nghỉ ngơi và tái tập hợp lực lượng. Quân Mông Cổ không kéo theo đoàn xe lương nặng nề, họ mang theo lương khô, phô mai khô gọi là aaruul, và vắt sữa hoặc máu ngựa khi di chuyển, khi chiếm được thành phố nào thì lập tức tịch thu toàn bộ lương thực tại đó. Tốc Bất Đài áp dụng học thuyết chiến tranh tổng lực, kết hợp giữa vây hãm, nghi binh và tiêu hao sinh lực. Quân Mông Cổ chia làm nhiều cánh quân độc lập nhưng hành quân theo các tuyến đường song song, giữ liên lạc bằng hệ thống tin ngựa cấp tốc Yam, phối hợp hội quân chính xác theo từng giờ tại điểm hẹn. Họ mang theo thợ máy và kỹ sư, được cho là chủ yếu từ Trung Quốc và Ba Tư, để chế tạo súng bắn đá và tháp vây thành ngay tại chỗ từ gỗ địa phương, dựng các bức tường gỗ bao quanh thành lũy đối phương để cắt đứt mọi con đường trốn thoát hoặc tiếp tế. Các thành phố kiên cố như Ryazan năm 1237 hay Vladimir năm 1238 đều rơi vào tay Mông Cổ chỉ trong vòng 3 đến 6 ngày vây hãm. Tại trận sông Sit năm 1238, trong khi một lực lượng vây hãm các thành phố, một cánh quân Mông Cổ cơ động bất ngờ tập kích trại của Đại công tước Yuri II khi ông này đang tập hợp quân phản công, tiêu diệt hoàn toàn chủ lực Vladimir-Suzdal. Chiến dịch thành công phần lớn nhờ tầm nhìn chiến lược của Tốc Bất Đài, người không chống lại tự nhiên mà hòa nhập vào nó, kết hợp tính cơ động của kỵ binh thảo nguyên với công nghệ vây thành tiên tiến và nghệ thuật tình báo sắc bén. ________________________________________ CHIẾN DỊCH CHINH PHẠT TRUNG ÂU (1241-1242) Chiến dịch chinh phạt Trung Âu năm 1241 là đỉnh cao phối hợp quân sự dưới quyền Bạt Hãn và Tốc Bất Đài, biến một vùng không gian rộng lớn hàng nghìn km2 thành một bàn cờ tác chiến phối hợp hoàn hảo. Mục tiêu chính là Vương quốc Hungary, nhưng bộ chỉ huy Mông Cổ hiểu rằng nếu đánh thẳng vào Hungary, các quốc gia công giáo châu Âu như Ba Lan, Thánh chế La Mã của Đức, và Bohemia sẽ chi viện cho vua Béla IV. Do đó họ triển khai kế hoạch chia rẽ và triệt tiêu tiếp tế từ xa. Quân Mông Cổ, theo các ước tính phổ biến khoảng 50.000 đến 70.000 người dù một số nghiên cứu cho rằng lực lượng thực chiến có thể thấp hơn, được chia làm hai lực lượng chính hành quân đồng thời qua dãy Carpathians. Cánh quân phía Bắc, do Baidar và Kadan chỉ đạo với khoảng 10.000 đến 20.000 quân, tràn vào Ba Lan không nhằm chiếm đóng mà để quấy rối, thu hút sự chú ý và tiêu diệt các đạo quân cứu viện phía Bắc trước khi họ kịp hội quân với Hungary. Cánh quân phía Nam, do Bạt Hãn và Tốc Bất Đài trực tiếp chỉ huy với khoảng 40.000 đến 50.000 quân, vượt qua các đèo núi băng tuyết tràn vào đồng bằng Hungary. Tháng 3 năm 1241, quân Mông Cổ chia làm 4 đến 5 mũi tiến công băng qua các đèo tuyết ngập tràn của dãy Carpathians, hoàn thành việc thâm nhập vào lãnh thổ Ba Lan và Hungary cùng một lúc. Ngày 9 tháng 4 năm 1241, tại trận Legnica ở Ba Lan, cánh quân phía Bắc Mông Cổ đè bẹp liên quân Ba Lan, Hiệp sĩ Đền Thánh và Hiệp sĩ Cứu Tế dưới sự chỉ huy của công tước Henry Kính Trọng, người bị trảm quyết khiến liên quân Bắc Âu tan rã hoàn toàn. Tại đây, quân Mông Cổ mở màn bằng đúng chiến thuật giả vờ rút lui đã dùng ở Kalka gần hai thập kỷ trước, khiến kỵ binh Ba Lan mải truy kích mà tách khỏi bộ binh, tạo khoảng trống để kỵ binh nhẹ Mông Cổ vòng lại bao vây tiêu diệt từng cánh quân. Chỉ 2 ngày sau, ngày 11 tháng 4 năm 1241, tại trận sông Sajó gần Mohi ở Hungary, cách Legnica hơn 500 km, chủ lực quân Mông Cổ dưới quyền Bạt Hãn và Tốc Bất Đài đại phá toàn bộ quân đội của vua Béla IV. Sự điều phối thời gian và không gian giữa hai trận đánh cách nhau chỉ 2 ngày vượt xa tầm trí tuệ quân sự thời Trung cổ của châu Âu. Tại trận Mohi, quân Hungary lập trại cố thủ bên kia cầu sông Sajó. Quân Mông Cổ dưới quyền Bạt Hãn và Tốc Bất Đài sử dụng máy bắn đá và pháo cơ giới bắn đá, hỏa cầu để áp chế lực lượng bảo vệ cầu của Hungary, mở đường vượt sông. Trong khi một cánh thu hút sự chú ý của đối phương tại cây cầu chính, một mũi quân khác âm thầm vượt sông ở đoạn nước sâu phía hạ lưu bằng cầu phao tự chế trong đêm, bọc hậu hoàn toàn trại quân Hungary. Khi quân Hungary bị bao vây chặt trong trại và rơi vào hoảng loạn, quân Mông Cổ cố tình chừa lại một khoảng trống nhỏ ở phía tây tuyến bao vây. Quân Hungary tưởng có đường sống liền vứt bỏ giáp trụ, vũ khí tháo chạy, và kỵ binh nhẹ Mông Cổ phục kích sẵn dọc đường chém giết quân tháo chạy trong suốt hàng chục km, tiêu diệt hoàn toàn sức kháng cự. Sau khi hủy diệt hai đạo quân lớn nhất Trung Âu, con đường tiến sang Áo, Đức và La Mã hoàn toàn rộng mở. Hungary khi đó gần như bị san phẳng, theo các ước tính khoảng một nửa số khu định cư bị phá hủy và 15 đến 25% dân số thiệt mạng, dù mức độ tàn phá khác nhau khá nhiều giữa các vùng và nặng nhất là ở vùng đồng bằng. Nhưng ngày 11 tháng 12 năm 1241, Đại Hãn Oa Khoát Đài qua đời tại Karakorum, và tin báo này đến tay bộ chỉ huy Mông Cổ ở Trung Âu vào đầu năm 1242. Theo luật pháp Mông Cổ, gọi là Yassa, tất cả các hoàng tử dòng tộc, bao gồm cả Bạt Hãn, phải trở về thủ đô để tham dự đại hội Kurultai bầu ra Đại Hãn mới. Dù Tốc Bất Đài muốn tiếp tục tiến quân, nghĩa vụ chính trị đã buộc toàn bộ lực lượng rút khỏi Trung Âu, khép lại chiến dịch đến nay vẫn được coi là tuyệt tác về phối hợp chiến lược tầm xa. ________________________________________ SO SÁNH VỚI NAPOLEON (1812) VÀ PHÁT XÍT ĐỨC (1941) Sáu thế kỷ sau, Napoleon và phát xít Đức đều điều động quân đội quy mô khổng lồ dựa vào hệ thống hậu cần đường bộ kéo dài, hoàn toàn trái ngược với mô hình tự cung tự cấp của kỵ binh Mông Cổ. Năm 1812, Napoleon đưa khoảng 612.000 quân vượt sông Neman tiến vào Nga, nhưng chỉ khoảng 112.000 người trở về được đến biên giới. Năm 1941, phát xít Đức huy động hơn 3 triệu quân cho chiến dịch Barbarossa, lực lượng xâm lược lớn nhất trong lịch sử chiến tranh. Mùa thu Nga có hiện tượng rasputitsa, đường xá biến thành bùn lầy, làm tê liệt xe cơ giới Đức và xe kéo của Napoleon. Khi băng giá xuất hiện, binh lính thiếu trang phục mùa đông, dầu máy đóng băng, ngựa chết hàng loạt vì thiếu cỏ, dẫn đến chết rét và chết đói trước khi kịp đánh trận lớn. Thất bại của cả hai không chỉ đến từ mùa đông. Napoleon luôn kỳ vọng một trận quyết chiến kiểu Austerlitz để buộc Sa hoàng cầu hòa nhanh chóng, nhưng quân Nga liên tục né tránh và chỉ giao chiến lớn duy nhất tại Borodino ngày 7 tháng 9 năm 1812, trong khi Nga áp dụng chính sách tiêu thổ, đốt sạch lương thực và cơ sở hạ tầng trên đường rút lui khiến quân Pháp không thể sống dựa vào đất chiếm được. Hitler tin rằng Liên Xô sẽ sụp đổ chỉ sau 6 đến 8 tuần và không chuẩn bị cho một cuộc chiến kéo dài, trong khi Liên Xô kịp di dời phần lớn nhà máy công nghiệp về phía đông dãy Ural, giúp duy trì và tăng sản xuất vũ khí ngay cả khi đang thất thế trên chiến trường. Khác với Kievan Rus phân mảnh thời Mông Cổ, Napoleon và phát xít Đức phải đối đầu với một nước Nga và sau này là Liên Xô đã thống nhất, sở hữu chính quyền trung ương mạnh mẽ, quân đội chính quy đông đảo và tinh thần dân tộc cao độ dưới sự chỉ đạo thống nhất. Cả hai đều thất bại vì áp đặt mô hình chiến tranh phương Tây, trông chờ một trận quyết chiến chớp nhoáng, vào một không gian mà đối phương sẵn sàng đánh đổi lãnh thổ, đốt sạch nguồn lực và kéo dài thời gian để mài mòn kẻ xâm lược. Ngược lại, Bạt Hãn và Tốc Bất Đài chiến thắng vì họ biến chính sự khắc nghiệt của mùa đông Nga thành vũ khí cơ động cho kỵ binh của mình. ________________________________________ Ảnh minh hoạ: Trận Mohi - Đỉnh cao chiến thuật của Tốc Bất Đài. Nguồn: Wikipedia

Nhận xét