NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA TÍNH KỶ LUẬT VÀ TINH THẦN TẬP THỂ NGƯỜI NHẬT

NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA TÍNH KỶ LUẬT VÀ TINH THẦN TẬP THỂ NGƯỜI NHẬT Theo các nghiên cứu xã hội học, lịch sử và nhân học văn hóa, trong đó có tác phẩm kinh điển Hoa cúc và gươm của nhà nhân học Ruth Benedict cùng các công trình của giáo sư Umesao Tadao và Chie Nakane, những phẩm chất này không phải là bản năng bẩm sinh mà là kết quả của một quá trình rèn luyện lâu dài dưới áp lực của hoàn cảnh địa lý, thể chế chính trị và tôn giáo. Trong luận điểm nổi tiếng mang tên Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học, công bố lần đầu trên tạp chí Chuo Koron năm 1957 và sau đó được biên tập, phát triển thành sách, Umesao Tadao lập luận rằng vị trí đảo quốc biệt lập giúp Nhật Bản, cùng với Tây Âu, ít bị xâm lăng trực tiếp hơn so với vùng trung tâm lục địa Á-Âu, nhờ đó phát triển liên tục qua các giai đoạn phong kiến, mạc phủ rồi hiện đại hóa mà không bị đứt gãy như phần lớn các nền văn minh còn lại của châu Á. Bốn nhân tố cốt lõi từ lịch sử Nhật Bản được xem là đã nhào nặn nên tính cách dân tộc này. ________________________________________ BỐN NHÂN TỐ LỊCH SỬ ĐỊNH HÌNH TÍNH CÁCH NGƯỜI NHẬT Nhật Bản là một quần đảo có địa hình khoảng 70 đến 80% là núi non, thường xuyên hứng chịu động đất, sóng thần, núi lửa và bão. Để sinh tồn trên những dải đồng bằng hẹp, người Nhật cổ đại buộc phải trồng lúa nước, loại hình canh tác đòi hỏi hệ thống thủy lợi quy mô lớn như đắp đập và dẫn nước mà một gia đình đơn lẻ không thể tự làm được. Nền kinh tế làng xã, gọi là mura, vì vậy vận hành theo nguyên tắc sinh tử chung, nếu một cá nhân không tuân thủ lịch trình canh tác của làng, cả làng có nguy cơ mất mùa và chết đói. Ở nhiều làng xã thời Edo, kẻ đi ngược lại tập thể có thể phải chịu hình phạt tự quản mang tên murahachi-bu, tức bị cả làng cô lập và cắt đứt mọi giao thiệp trừ khi nhà có hỏa hoạn hoặc đám tang, dù đây là tập tục tự quản của từng làng chứ không phải luật thành văn thống nhất của Mạc phủ, và mức độ áp dụng khác nhau tùy vùng và thời kỳ. Nỗi sợ bị tách khỏi tập thể từ tập tục này được xem là một trong những gốc rễ khiến người Nhật luôn có xu hướng nỗ lực hòa nhập với nhóm. Khác với chế độ Nho giáo ở Trung Quốc và Việt Nam, nơi gia tộc và dòng họ được đặt lên trên hết, xã hội phong kiến Nhật Bản vận hành theo mô hình đề cao tập thể và nghĩa vụ. Dưới thời Mạc phủ, tầng lớp samurai nắm quyền sinh sát, bộ luật võ sĩ đạo gọi là bushido cùng các quy định của Mạc phủ đòi hỏi sự phục tùng tuyệt đối với cấp trên, và sự thiếu kỷ luật hay vô lễ nghiêm trọng có thể bị pháp luật cho phép trừng trị ngay tại chỗ, dù trên thực tế đây là quyền bị ràng buộc chặt chẽ chứ không phải một đặc quyền tùy tiện, như sẽ được phân tích rõ hơn ở phần sau. Trong xã hội phân công lao động thời Edo, nông dân, thợ thủ công và thương nhân bị xếp vào các giai cấp cố định, không thể đổi nghề hay thi làm quan như ở Trung Quốc, nên người Nhật dồn toàn bộ tâm sức để làm tốt nhất công việc được giao qua nhiều thế hệ. Đây được xem là gốc rễ của tinh thần tỉ mỉ cầu toàn gọi là kodawari và văn hóa thợ lành nghề gọi là shokunin còn tồn tại đến ngày nay. Sự kết hợp giữa Thần đạo và Phật giáo Thiền tông cũng góp phần định hình thái độ của người Nhật trước nghịch cảnh. Hai tôn giáo này dạy rằng thiên tai và biến cố là điều không thể tránh khỏi, và tinh thần giữ bình tĩnh, chấp nhận thực tại theo lối nói shikata ga nai nghĩa là đành chịu vậy thôi, rồi cùng nhau dọn dẹp để làm lại từ đầu, thường được liên hệ với cách ứng xử này. Tinh thần đó có phần tương đồng với tính kiên nhẫn gọi là gaman. Thần đạo cũng coi trọng sự sạch sẽ cả về thể xác lẫn tinh thần, coi sự dơ bẩn hỗn loạn là mầm mống của tai họa, một điểm tương đồng khác với ý thức không làm phiền người khác gọi là meiwaku, thể hiện qua thói quen giữ gìn vệ sinh chung và giữ im lặng ở nơi công cộng. Vào thế kỷ 18, Edo, tức Tokyo ngày nay, đã trở thành một trong những đô thị đông dân nhất thế giới với dân số vượt 1.000.000 người sống trong mật độ cực kỳ dày đặc, phần lớn trong các căn nhà gỗ dễ cháy. Để hàng trăm nghìn người có thể sống hòa bình trong không gian chật hẹp mà không xảy ra xung đột hay hỏa hoạn lan rộng, Mạc phủ đã rèn giũa những quy tắc ứng xử đô thị nghiêm ngặt như nhường đường, nói khẽ, kiềm chế cảm xúc cá nhân và tôn trọng khoảng trống của người khác. Việc bộc lộ cảm xúc quá đà như giận dữ hay đau khổ ở nơi công cộng bị coi là hành vi thiếu văn hóa và gây mất an toàn cho cộng đồng, góp phần củng cố thêm tinh thần nhẫn nại cảm xúc gaman đã hình thành từ trước đó. ________________________________________ KHÁI NIỆM TÂM LÝ HỌC AMAE VÀ NHU CẦU NƯƠNG TỰA VÀO TẬP THỂ Bên cạnh cách tiếp cận lịch sử và địa lý, nhà tâm thần học Takeo Doi đưa ra một lời giải thích ở tầng tâm lý cá nhân trong cuốn sách Cấu trúc của sự phụ thuộc xuất bản năm 1971. Doi gọi hiện tượng này là amae, tức nhu cầu được người khác, đặc biệt là người có vị thế cao hơn, thấu hiểu và bao bọc mà không cần phải nói ra thành lời, giống như quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Theo Doi, trong khi văn hóa phương Tây coi sự phụ thuộc vào người khác là dấu hiệu của yếu đuối hoặc thiếu trưởng thành, người Nhật lại coi việc được nương tựa vào một tập thể hiểu và che chở mình là trạng thái tâm lý lý tưởng. Bản thân Doi không trực tiếp gắn amae với cơ chế tẩy chay murahachi-bu, nhưng nếu đặt hai lý thuyết cạnh nhau có thể thấy chúng bổ sung cho nhau theo hướng suy luận liên ngành, khi nỗi sợ bị loại trừ khỏi tập thể và nhu cầu được tập thể bao bọc là hai mặt của cùng một tâm lý gắn chặt cá nhân với nhóm. ________________________________________ SỰ KHÁC BIỆT SO VỚI VĂN HÓA NHO GIÁO VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC Trong tác phẩm Xã hội Nhật Bản, giáo sư Chie Nakane lý giải xã hội Nhật Bản bằng khái niệm xã hội dọc, tức các mối quan hệ con người được tổ chức chủ yếu theo nguyên tắc khung, nghĩa là theo nơi chốn và tổ chức cùng thuộc về, hơn là theo thuộc tính như huyết thống hay nghề nghiệp. Nếu diễn giải khái niệm này trong tương quan so sánh, có thể thấy dù cả Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản đều coi trọng tập thể hơn cá nhân, bản chất của tập thể ở hai bên khác nhau căn bản. Ở Việt Nam và Trung Quốc, đơn vị tập thể tối thượng theo tinh thần Nho giáo là gia tộc và dòng họ, mọi giá trị đạo đức như hiếu và đễ đều xoay quanh việc bảo vệ và làm vang danh dòng họ. Vì dồn hết lòng trung thành cho dòng họ, người dân trong xã hội Nho giáo có xu hướng trong nhà thì nâng niu còn ra đường thì bỏ mặc, các mối quan hệ ngoài dòng họ thường mang tính xã giao hơn là cam kết kỷ luật tuyệt đối. Ở Nhật Bản, người dân coi tổ chức, làng xã hoặc công ty quan trọng hơn cả dòng họ máu mủ, thời phong kiến một người sẵn sàng tố giác hoặc quay lưng với người thân nếu người thân đó làm hại đến làng hoặc lãnh địa. Lòng trung thành của họ vì vậy được đặt vào cấu trúc tổ chức chung, tạo ra sự kỷ luật đồng bộ vượt ra ngoài quy mô gia đình. Nho giáo đề cao chữ tình, thể hiện qua các quan niệm như tình làng nghĩa xóm hay một người làm quan cả họ được nhờ. Khi một cá nhân vi phạm kỷ luật, tập thể theo tinh thần Nho giáo có xu hướng bao che hoặc du di luật lệ vì nể mặt gia đình và các mối quan hệ cá nhân, giúp xã hội ấm áp hơn nhưng cũng làm suy yếu tính nghiêm minh của quy tắc chung. Ngược lại, xã hội Nhật Bản thời phong kiến vận hành theo cơ chế loại trừ sòng phẳng thông qua hình phạt tẩy chay murahachi-bu, khi một cá nhân làm sai quy tắc của làng hay tổ chức thì không gia đình hay dòng họ nào đứng ra bảo vệ được, người đó sẽ bị cả tập thể cô lập hoàn toàn. Áp lực bị đào thải khỏi tập thể mạnh đến mức biến sự kỷ luật và tuân thủ quy tắc trở thành bản năng sinh tồn của mỗi cá nhân. Sự khác biệt còn nằm ở tầng lớp áp đặt quy tắc trong xã hội. Ở Việt Nam và Trung Quốc, tầng lớp nho sĩ quản lý xã hội bằng kinh sách, đạo đức và sự giáo hóa, trọng văn hơn võ và thiên về giảng giải đúng sai, khiến kỷ luật xã hội phần lớn dừng lại ở mức tự giác đạo đức. Ở Nhật Bản, tầng lớp samurai quản lý xã hội bằng quân luật và khả năng thực thi tức thì, dưới thời Edo pháp luật công nhận quyền bureiuchi, tức được phép trừng trị người thuộc tầng lớp dưới nếu người đó có hành vi vô lễ nghiêm trọng, dù trên thực tế samurai phải chứng minh được lý do chính đáng, ở lại hiện trường chịu điều tra, và số vụ được công nhận chính thức trong sử liệu là khá ít, khác xa hình ảnh phổ biến trong văn hóa đại chúng về một đặc quyền giết người tùy tiện thường được gọi bằng tên kirisute-gomen. Sự hiện diện của tầng lớp quản lý mang tính quân sự này trải dài suốt 683 năm, từ khi Mạc phủ Kamakura thành lập năm 1185 đến khi Minh Trị Duy Tân chấm dứt chế độ Mạc phủ năm 1868, dù đây không phải một chế độ thống nhất liên tục mà lần lượt qua ba thời kỳ Mạc phủ Kamakura, Ashikaga và Tokugawa với tính chất khác nhau đáng kể, và được cho là đã góp phần biến các thói quen như đúng giờ, giữ lời hứa, làm đúng quy trình và tuân lệnh trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. ________________________________________ MINH HỌA QUA ĐIỆN ẢNH: PHÂN CẢNH TRONG DREAMS CỦA AKIRA KUROSAWA Sự khác biệt văn hóa nói trên được minh họa sinh động qua phân cảnh mở đầu mang tên Sunshine Through the Rain, còn gọi là Kitsune no Yomeiri hay đám cưới hồ ly, trong bộ phim Dreams năm 1990 của đạo diễn Akira Kurosawa. Theo truyền thuyết dân gian Nhật Bản được tái hiện trong phim, khi trời vừa mưa vừa nắng, loài hồ ly gọi là kitsune sẽ tổ chức đám cưới và con người tuyệt đối không được phép rình xem. Một cậu bé vì tò mò đã lén nhìn thấy đám cưới hồ ly trong rừng và bị phát hiện. Khi cậu chạy về nhà, người mẹ đứng chặn trước cửa, thông báo rằng một con hồ ly giận dữ đã để lại một con dao tại nhà và kiên quyết không cho con vào. Bà đưa con dao cho cậu bé, bảo cậu phải đi tìm hồ ly để xin lỗi, nếu không được tha thứ thì cậu sẽ phải tự kết liễu đời mình. Kurosawa không trực tiếp nhắc đến các khái niệm murahachi-bu hay jiko-sekinin trong phân cảnh này, đây là một cách đọc biểu tượng cho những giá trị văn hóa đã phân tích ở trên chứ không phải sử liệu. Theo cách đọc đó, phân cảnh thể hiện rõ nét sự tàn nhẫn vì sự tồn vong chung mà văn hóa Nhật Bản coi trọng. Trong văn hóa Nho giáo truyền thống ở Việt Nam hay Trung Quốc, khi một đứa trẻ làm sai, phản ứng tự nhiên của gia đình thường là che giấu hoặc xin xỏ để bảo vệ con mình. Trong phân cảnh của Kurosawa, người mẹ dù đau đớn vẫn không bảo vệ con mà đẩy đứa con ra ngoài đối mặt với hậu quả, một hình ảnh gần với văn hóa trách nhiệm cá nhân gọi là jiko-sekinin, theo đó lỗi của ai người đó tự chịu trách nhiệm mà không được gia đình gánh thay. Nỗi sợ hãi sâu xa hơn đằng sau hành động của người mẹ có thể liên hệ với việc cả gia đình bị cộng đồng loại trừ nếu bị xem là bao che cho một kẻ vi phạm quy tắc chung. ________________________________________ BIỂU HIỆN TRONG XÃ HỘI NHẬT BẢN ĐƯƠNG ĐẠI Những nhân tố lịch sử nói trên vẫn để lại dấu ấn rõ rệt trong xã hội Nhật Bản hiện đại, đặc biệt là trong văn hóa doanh nghiệp thời hậu chiến. Chế độ tuyển dụng trọn đời, gọi là shushin koyo, bắt đầu xuất hiện ở các công ty lớn từ khoảng những năm 1920 nhưng khi đó chủ yếu áp dụng cho lao động có kỹ năng và tầng lớp quản lý, rồi mới định hình rõ nét thành một hệ thống phổ quát hơn trong thập niên 1950 như một phần chiến lược phục hồi kinh tế của doanh nghiệp và nhà nước thời hậu chiến. Chế độ này gắn liền người lao động với tổ chức theo cách tương tự như sự gắn bó giữa cá nhân với làng xã hay lãnh địa thời phong kiến, đến mức một nhân viên có thể tự giới thiệu bản thân bằng tên công ty mình trước tên riêng. Đi kèm với đó là khái niệm wa, tức sự hòa hợp tập thể, đòi hỏi mỗi cá nhân trong công ty đặt lợi ích chung lên trên nhu cầu hay ý kiến riêng, tương tự tinh thần đề cao tổ chức hơn dòng họ đã hình thành từ thời Edo. Tuy nhiên, báo cáo State of the Global Workplace năm 2024 của Gallup, dựa trên dữ liệu khảo sát năm 2023, cho thấy mức độ gắn bó của người lao động Nhật Bản với công việc chỉ đạt 6%, thuộc hàng thấp nhất thế giới và ngang với Hồng Kông, trong khi chế độ tuyển dụng trọn đời và hệ thống lương theo thâm niên đang dần bị các công ty trẻ thu hẹp phạm vi áp dụng. Điều này cho thấy khuôn khổ tổ chức đề cao tập thể do lịch sử để lại vẫn tồn tại trong xã hội Nhật Bản đương đại, nhưng đang chịu áp lực thay đổi từ chính những hệ quả mà nó tạo ra.

Nhận xét