MỘT THỜI ĐẠI ĐÃ QUA, NHỮNG CÂU HỎI CÒN LẠI
Có những văn bản càng lùi xa khỏi thời điểm ra đời, càng cần được đọc chậm hơn. Không phải để tìm xem người viết đã đoán đúng tương lai đến đâu, mà để hiểu họ đã nhìn thấy gì trong thời đại của mình và vì sao một số câu hỏi từ rất lâu trước đây vẫn có thể khiến người đọc hôm nay dừng lại.
Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1920 là những văn bản như vậy. Chúng được viết trong một hoàn cảnh lịch sử rất cụ thể: một người hoạt động chính trị đang quan sát, nghiên cứu và trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh chống chế độ thuộc địa. Vì thế, đây trước hết là những văn bản chính luận mang tính chiến đấu, với giọng tố cáo mạnh, nhiều hình ảnh châm biếm và những nhận định được lựa chọn để làm nổi bật những điều tác giả muốn phê phán.
Nhưng nếu chỉ đọc chúng như những lời tố cáo của một thời đại đã qua, chúng ta có thể bỏ lỡ một tầng nghĩa khác. Phía sau những câu chuyện về viên chức, thuế khóa, công trình công cộng, giáo dục, báo chí, pháp luật hay kinh tế là những câu hỏi rộng hơn về cách một xã hội tổ chức quyền lực: quyền lực được sử dụng vì ai, nguồn lực công phục vụ ai, pháp luật có thực sự là nguyên tắc chung, giáo dục nhằm mở mang con người hay duy trì một trật tự có sẵn?
Chính những câu hỏi ấy khiến một số văn bản từ gần một thế kỷ trước vẫn có khả năng gợi suy nghĩ cho người đọc hôm nay.
* Một bộ máy công quyền được tổ chức để phục vụ ai?
Trong Ăn bám và hỗn độn, Nguyễn Ái Quốc dẫn lại một nhận xét đầy tính công kích về bộ máy viên chức thuộc địa:
“Nếu đem so sánh với bọn viên chức thuộc địa, thì những quân cướp đường còn là những người lương thiện.”
Đó không phải là ngôn ngữ của một bản báo cáo hành chính. Nó là ngôn ngữ của một văn bản chính luận có tính chiến đấu, được cố ý đẩy tới mức gay gắt để tố cáo một bộ máy mà tác giả cho rằng đang vận hành trái với lợi ích của người dân bản xứ.
Nhưng nếu bỏ qua lớp ngôn ngữ ấy, phía sau vẫn còn một câu hỏi đáng chú ý: một bộ máy công quyền cuối cùng được tổ chức để phục vụ ai?
Đây có lẽ là một trong những điểm khiến các bài viết ấy vẫn đáng đọc. Một hệ thống quyền lực không chỉ được nhìn qua những khẩu hiệu mà nó đưa ra, mà còn qua cách nó thu thuế, xây dựng công trình, tổ chức giáo dục, thực thi pháp luật và kiểm soát thông tin.
* Một công trình được xây dựng cho ai?
Trong Công chính, Nguyễn Ái Quốc viết:
“Có khi họ cũng hấp tấp xây dựng những công trình xa hoa lộng lẫy, nhưng không phải cho những người đã bỏ tiền ra, không phải để cho người Việt Nam được hưởng.”
Câu văn này nếu đọc như một lời bình luận về một công trình cụ thể thì thuộc về hoàn cảnh thuộc địa. Nhưng nếu đọc như một câu hỏi về quản trị, nó lại rộng hơn rất nhiều.
Một công trình công cộng không chỉ có giá trị ở kích thước, kiến trúc hay số tiền đầu tư. Còn phải hỏi nó được xây dựng bằng nguồn lực nào, phục vụ nhóm người nào và lợi ích mà nó tạo ra cuối cùng thuộc về ai.
Tuy nhiên, chính ở đây cần tránh một cách đọc quá đơn giản. Những công trình hạ tầng dưới thời Pháp thuộc không phải lúc nào cũng có một chức năng duy nhất. Đường sắt, cảng biển, đô thị, cầu đường và các thiết chế kinh tế vừa phục vụ nhu cầu của bộ máy thuộc địa và hoạt động kinh doanh, vừa tạo ra những thay đổi lâu dài đối với nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Một thiết chế có thể phục vụ mục tiêu của người xây dựng nó nhưng về sau lại được những thế hệ khác sử dụng cho những mục đích hoàn toàn khác.
Lịch sử thường phức tạp như vậy. Một công trình có thể đồng thời là công cụ của quyền lực và trở thành một phần của di sản mà những người sống sau tiếp tục sử dụng.
* Giáo dục và nghịch lý của một thiết chế
Trong Chính sách ngu dân, Nguyễn Ái Quốc dẫn lại nhận xét:
“Họ chỉ xây dựng được một ít trường học để đào tạo ra những con vẹt, những người vong bản thiếu đạo đức và thiếu cả kiến thức phổ thông.”
Đây là một trong những đoạn được chia sẻ nhiều trên mạng hiện nay. Nhưng nó cũng là ví dụ rõ nhất cho sự khác biệt giữa một văn bản chính luận và một nghiên cứu lịch sử.
Nguyễn Ái Quốc đang tố cáo một nền giáo dục mà ông cho rằng phục vụ mục đích cai trị, chứ không viết một công trình nghiên cứu về toàn bộ hệ thống giáo dục Đông Dương. Các nghiên cứu sau này cho thấy hệ thống giáo dục thuộc địa có quy mô hạn chế, được tổ chức theo nhiều tầng bậc và gắn chặt với cấu trúc cai trị; đồng thời, nó cũng đưa vào xã hội Việt Nam những chương trình học, ngôn ngữ và phương thức đào tạo mới, góp phần tạo ra những biến đổi đáng kể trong đời sống trí thức.
Điều đáng suy nghĩ nằm ở nghịch lý ấy.
Một thiết chế được tạo ra để duy trì một trật tự có thể đồng thời tạo ra những biến đổi mà chính trật tự đó không hoàn toàn kiểm soát được.
Một bộ phận những người được đào tạo trong hệ thống thuộc địa về sau trở thành trí thức, nhà cải cách, nhà báo hoặc những người tham gia các phong trào chính trị khác nhau. Điều đó không phủ nhận mục tiêu và giới hạn của giáo dục thuộc địa, nhưng giúp chúng ta hiểu rằng lịch sử của một thiết chế không thể chỉ được giải thích bằng ý định của người thiết kế nó.
* Báo chí và quyền được biết
Trong những bài viết về báo chí, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý đến kiểm duyệt và khả năng kiểm soát đời sống tinh thần. Ông phê phán thứ báo chí chỉ biết kể chuyện vụn vặt, ca tụng những người có quyền và quảng bá cho cái gọi là công cuộc khai hóa; đồng thời mô tả việc kiểm duyệt như một cách làm cho người dân không còn biết những gì đang xảy ra bên ngoài xã hội.
Đây trước hết là một vấn đề của báo chí thuộc địa. Nhưng từ đó có thể đặt ra một câu hỏi rộng hơn: báo chí tồn tại để truyền đạt điều người có quyền muốn công chúng biết, hay còn để đặt câu hỏi về chính những người đang nắm quyền?
Câu hỏi ấy không cần một câu trả lời được lấy sẵn từ văn bản của Nguyễn Ái Quốc. Nó có thể được đặt lại như một vấn đề chung của đời sống xã hội.
Bởi một xã hội không chỉ cần thông tin. Nó cần khả năng kiểm chứng thông tin, khả năng tranh luận và khả năng để những tiếng nói khác nhau cùng tồn tại. Khi một nguồn thông tin duy nhất có quyền quyết định điều gì được nói và điều gì không được nói, vấn đề không còn chỉ là báo chí. Nó trở thành vấn đề về khả năng tự nhận thức của cả xã hội.
* Pháp luật có đứng cao hơn quyền lực?
Trong Công lý, Nguyễn Ái Quốc viết bằng giọng cực kỳ gay gắt:
“Pháp luật, công lý đối với người bản xứ ư? Thôi đi! Chỉ có batoong, súng ngắn, súng dài…”
Câu văn ấy không nên được đọc như một bản tổng kết trung tính về toàn bộ hệ thống pháp luật thuộc địa. Nó là một lời tố cáo, và chính ngôn ngữ mạnh của nó cho thấy mục đích của văn bản.
Nhưng câu hỏi phía sau lại rất căn bản: Pháp luật có ý nghĩa gì nếu quyền lực đứng trên chính những nguyên tắc mà nó đặt ra?
Một nhà nước có thể có rất nhiều luật. Nhưng sự tồn tại của luật trên giấy chưa đủ để nói rằng pháp luật đang thực sự giới hạn quyền lực. Còn phải nhìn vào cách luật được áp dụng, khả năng tiếp cận công lý, mức độ bình đẳng trước pháp luật và những cơ chế kiểm soát người thực thi quyền lực.
Đó là một vấn đề lớn hơn thời thuộc địa. Và có lẽ chính vì vậy mà một câu văn được viết trong một hoàn cảnh rất khác vẫn có thể khiến người đọc hôm nay suy nghĩ.
* Của cải được tạo ra, nhưng thuộc về ai?
Ở lĩnh vực kinh tế, những bài viết của Nguyễn Ái Quốc liên tục quay lại một vấn đề: người dân bản xứ phải chịu thuế, lao động và đóng góp cho một hệ thống mà họ không có quyền quyết định tương xứng.
Trong những phần như Đời sống kinh tế Đông Dương, ông mô tả nghịch lý giữa một bên là tài nguyên, thương mại, cảng biển và dòng tiền ngày càng lớn, một bên là đời sống nghèo khó của phần đông dân cư. Những đoạn văn ấy được viết với mục đích tố cáo, nên cách lựa chọn dữ kiện và ngôn ngữ tất nhiên mang tính tranh luận rất rõ.
Nhưng đằng sau đó là một câu hỏi kinh tế không hề nhỏ: một xã hội có thể tạo ra nhiều của cải nhưng người tạo ra của cải lại không được hưởng tương xứng hay không?
Nghiên cứu lịch sử tài chính Đông Dương cho thấy hệ thống thuộc địa không đơn giản chỉ là một đường thẳng từ khai thác đến nghèo đói. Bộ máy tài chính có cấu trúc phức tạp, nguồn thu gắn với thương mại và các hoạt động kinh tế khác, trong khi đầu tư và của cải phân bố không đồng đều. Gánh nặng tài chính cũng không rơi xuống mọi nhóm dân cư theo cùng một cách.
Những phức tạp ấy không làm cho lời tố cáo của Nguyễn Ái Quốc trở nên vô nghĩa. Ngược lại, chúng cho thấy vì sao cần đọc một văn bản chính luận cùng với những nghiên cứu khác. Lời tố cáo cho ta biết điều tác giả muốn xã hội nhìn thấy; lịch sử giúp ta tìm hiểu toàn bộ cấu trúc đã tạo ra điều đó.
* Đừng biến những lời tố cáo thành lời tiên tri
Có lẽ đây là điểm quan trọng nhất để phân biệt cách đọc lịch sử với kiểu nội dung đang được chia sẻ rất nhiều trên mạng.
Một số bài viết hiện nay tập hợp những câu trích dẫn của Nguyễn Ái Quốc rồi đặt chúng cạnh nhau như bằng chứng rằng ông đã nhìn thấy trước rất nhiều vấn đề của hiện tại. Cách đọc ấy tạo cảm giác mạnh, nhưng nó đã thay đổi bản chất của những văn bản ban đầu.
Nguyễn Ái Quốc không viết những bài ấy để dự đoán Việt Nam của thế kỷ XXI. Ông viết về một chế độ thuộc địa mà ông đang trực tiếp chống lại. Nhiều câu văn được tạo ra nhằm thuyết phục độc giả, gây phẫn nộ và vạch ra điều mà ông xem là sự mâu thuẫn giữa những lời tuyên bố về khai hóa văn minh với thực tế cai trị.
Hơn nữa, chính mốc thời gian trong những bài chia sẻ trên mạng cũng cần được cẩn trọng. Không phải tất cả những trích dẫn thường được gom vào nhóm 1921–1926 đều thuộc cùng một giai đoạn. Bản thảo Đông Dương được hoàn thành trong khoảng 1923–1924 và bao gồm nhiều phần như Những thảm họa của nền văn minh, Đời sống kinh tế Đông Dương, Các quan cai trị, Ăn bám và hỗn độn, Công chính, Chính sách ngu dân, Báo chí và Công lý. Trong khi đó, Đông Dương khổ nhục được xác định là bài viết năm 1928.
Chỉ riêng việc kiểm tra lại niên đại đã cho thấy một vấn đề: muốn đọc lịch sử, không thể chỉ đọc câu nói; còn phải đọc cả thời điểm, văn cảnh và mục đích của câu nói ấy.
* Điều còn lại sau một thế kỷ
Một thế kỷ đã trôi qua. Chế độ thuộc địa đã biến mất. Những viên chức, tòa án, trường học, tờ báo và công trình mà Nguyễn Ái Quốc từng viết về cũng đã trở thành một phần của lịch sử.
Nhưng những câu hỏi phía sau chúng thì chưa biến mất.
Quyền lực được sử dụng vì ai? Một bộ máy công quyền phải chịu trách nhiệm trước ai? Giáo dục nhằm mở rộng năng lực suy nghĩ của con người đến đâu? Báo chí có quyền đặt câu hỏi với người có quyền lực hay không? Pháp luật có thực sự đứng cao hơn người thực thi nó? Và khi một xã hội tạo ra của cải, ai được hưởng thành quả từ những gì xã hội ấy tạo ra?
Đó không còn là những câu hỏi riêng của Đông Dương đầu thế kỷ XX. Nhưng cũng không nên vì thế mà nói Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy trước tất cả những vấn đề của hiện tại.
Điều đáng nói hơn là một văn bản được viết trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể đôi khi có thể vượt ra ngoài hoàn cảnh đó nhờ những câu hỏi mà nó đặt ra.
Đọc lại Nguyễn Ái Quốc vì thế không nhất thiết để tìm kiếm những câu đúng với hôm nay. Cũng không cần phải phủ nhận những giới hạn, những thiên kiến hay mục đích chính trị của người viết. Điều cần thiết hơn là đọc từng văn bản trong hoàn cảnh của nó, kiểm tra lại dữ kiện, đối chiếu với những nguồn khác và phân biệt giữa lời tố cáo với sự mô tả lịch sử.
Sau cùng, có lẽ giá trị của việc đọc lại lịch sử không nằm ở chỗ tìm thấy một người đã nói đúng tất cả từ một trăm năm trước.
Nó nằm ở chỗ những câu chữ cũ khiến chúng ta đặt những câu hỏi mới về chính xã hội mình đang sống.
Một thời đại có thể qua đi. Một chế độ có thể biến mất. Những con người từng đứng ở hai phía của một cuộc đấu tranh cũng có thể chỉ còn lại trong sách sử.
Nhưng câu hỏi về quyền lực, công bằng, giáo dục, pháp luật, thông tin và của cải vẫn có thể trở lại dưới những hình thức khác.
Và có lẽ đó mới là lý do đáng để đọc lại những văn bản ấy sau một thế kỷ: không phải để tìm một lời tiên tri, mà để hiểu một thời đại – và qua đó hiểu rõ hơn những vấn đề mà mọi xã hội đều phải đối diện.
Tư liệu tham khảo
Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, các tập liên quan.
Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890–1929), NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Bảo tàng Hồ Chí Minh, tư liệu về hoạt động và tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1919–1929.
Montserrat López Jerez, “Các thể chế thuộc địa và bản địa trong phát triển tài chính ở Đông Dương thuộc Pháp”, trong Năng lực tài chính và nhà nước thuộc địa ở châu Phi và châu Á, khoảng 1850–1960, NXB Đại học Cambridge, 2019.
Trịnh Văn Thảo, “Tư tưởng về nhà trường ở Đông Dương (1890–1938)”, Tạp chí Thế giới thứ Ba, số 133, 1993.
Gail P. Kelly, “Cách xã hội bản địa được trình bày trong các trường học ở Tây Phi thuộc Pháp và Đông Dương, 1918–1938”, Nghiên cứu So sánh về Xã hội và Lịch sử, tập 26, số 3, 1984.
Ảnh: Bìa Le Procès de la Colonisation Française (Bản án chế độ thực dân Pháp), Nguyễn Ái Quốc, Paris, 1925. Tác phẩm tập hợp những bài viết được hình thành trong những năm 1921–1924, xuất bản lần đầu tại Paris năm 1925.
Nguồn ảnh: Thông tấn xã Việt Nam, giới thiệu hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Nhận xét
Đăng nhận xét