BÌNH DÂN Ở ĐỊA VỊ, QUÝ TỘC Ở CÁCH SỐNG

BÌNH DÂN Ở ĐỊA VỊ, QUÝ TỘC Ở CÁCH SỐNG Sinh ra trong gia đình quyền thế chưa chắc đã có một tâm hồn cao quý. Sống một đời bình thường cũng chẳng làm con người thấp kém. Điều đáng nói hơn nằm ở cách mỗi người sử dụng tiền bạc, quyền lực, lợi thế của mình và cách họ đối xử với những người yếu thế hơn. Trong lịch sử, quý tộc và bình dân từng là những vị trí xã hội khá rõ ràng. Một bên gắn với dòng họ, tước vị và đặc quyền; bên kia là phần đông những người sống bằng lao động và không có nhiều đặc quyền. Còn lưu manh vốn mang nhiều lớp nghĩa, thường được dùng để chỉ những con người hoặc hành vi gian trá, vô lại, bất chấp chuẩn mực. Nhưng nếu tạm đặt địa vị xã hội sang một bên, những khái niệm ấy lại gợi ra một câu chuyện khác: con người sẽ sống thế nào khi đứng trước lợi ích, quyền lực và những cơ hội mà người khác không có? BÌNH DÂN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI THẤP KÉM Phần lớn con người đều sống một cuộc đời khá bình thường. Họ đi làm, kiếm tiền, nuôi gia đình, chăm sóc cha mẹ, xây dựng các mối quan hệ và cố gắng giữ cho cuộc sống của mình ổn định. Đó chính là đời sống của số đông. Bình dân vì thế trước hết là một vị trí trong xã hội. Nó nói về điều kiện sống, nghề nghiệp, địa vị hoặc mức độ ảnh hưởng của một người, chứ không quyết định người đó có đáng kính hay không. Một người lao động bình thường vẫn có thể sống rất ngay thẳng. Một người không có tiền vẫn có thể giữ lời hứa. Một người không có chức vụ vẫn có thể biết đứng về phía điều đúng. Xã hội được duy trì mỗi ngày phần lớn cũng nhờ những con người như vậy. Bởi thế, đặt bình dân ở phía thấp hơn về mặt phẩm giá là một cách nhìn sai ngay từ điểm xuất phát. QUÝ TỘC NẰM Ở CÁCH SỐNG Nếu dùng quý tộc theo nghĩa phẩm chất, nó không còn phụ thuộc vào dòng họ hay tước hiệu. Một người có thể sinh ra trong nhung lụa nhưng sống ích kỷ, nhỏ nhen, coi thường người yếu hơn. Ngược lại, một người chẳng có tài sản hay địa vị đáng kể vẫn có thể giữ được lòng tự trọng, biết điều gì nên làm và điều gì không nên làm. Điểm đáng chú ý của tinh thần quý tộc nằm ở khả năng tự giới hạn mình khi mình có đủ khả năng để làm khác đi. Có quyền nhưng không tùy tiện sử dụng quyền. Có tiền nhưng không xem tiền là lý do để coi thường người khác. Có ưu thế nhưng không biến ưu thế thành công cụ chèn ép. Có khả năng trả đũa nhưng vẫn biết lúc nào nên dừng lại. Đó là một dạng kỷ luật bên trong. Quyền lực càng lớn, khả năng gây ảnh hưởng đến người khác càng lớn, thì yêu cầu về sự tự chủ và trách nhiệm càng cao. Người có nhiều hơn cũng thường có nhiều cơ hội để làm điều tốt hơn cho người khác. Vì vậy, tinh thần quý tộc không nằm ở việc một người có bao nhiêu, mà nằm ở cách họ sử dụng những gì mình có. LƯU MANH BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU? Lưu manh cũng không bắt đầu từ nghèo khó, ít học hay địa vị thấp. Một người trở nên lưu manh về cách sống khi những nguyên tắc của họ liên tục thay đổi theo lợi ích. Có lợi thì nói thật, bất lợi thì nói dối. Cần người khác thì giữ lời, đạt được mục đích rồi thì tìm cách phủi bỏ. Khi mình yếu thì đòi hỏi công bằng, đến lúc có quyền lại cho rằng công bằng không còn cần thiết. Không dám bắt nạt người mạnh nhưng sẵn sàng chèn ép người yếu. Điều đáng ngại hơn cả là khi những hành vi ấy được gọi bằng những cái tên nghe có vẻ khôn ngoan: biết làm ăn, biết thời thế, biết sống thực tế, biết lo cho mình. Từ đó, sự gian trá dần được xem như một kỹ năng sinh tồn, còn sự tử tế bị coi là ngây thơ. Khi một xã hội thưởng cho sự gian dối và khiến người giữ nguyên tắc liên tục chịu thiệt, lòng tin giữa người với người cũng khó tồn tại lâu dài. BA THỨ GIỮ CON NGƯỜI LẠI Nếu phải tìm một nền tảng cho tinh thần quý tộc theo nghĩa đạo đức, có lẽ có thể bắt đầu từ ba điều: thành tín, đạo nghĩa và trách nhiệm. Thành tín là sự nhất quán giữa lời nói và hành động. Người khác có thể biết mình sẽ làm gì vì họ tin vào lời mình nói. Một xã hội thiếu thành tín sẽ rất khó duy trì những quan hệ lâu dài. Nhưng thành tín không đồng nghĩa với sự trung thành mù quáng. Giữ lời cũng cần đi cùng khả năng phân biệt đúng sai. Đạo nghĩa là khả năng nhìn thấy phẩm giá của người khác, kể cả khi người đó không mang lại lợi ích gì cho mình. Nó thể hiện rõ nhất trong cách con người đối xử với người yếu thế, người không có khả năng đáp trả và người đang ở vị trí thấp hơn mình. Trách nhiệm là ý thức rằng có những việc thuộc về mình và mình không thể đẩy chúng sang cho người khác. Ba điều này tạo ra một giới hạn bên trong. Khi lợi ích xuất hiện, khi quyền lực đến tay, khi không còn ai giám sát, chính giới hạn ấy quyết định một người sẽ đi xa đến đâu. CON NGƯỜI ĐƯỢC THỬ LÒNG KHI CÓ NHIỀU HƠN Lúc nghèo, người ta dễ nói rằng tiền không quan trọng. Lúc chưa có quyền, người ta dễ nói rằng mình tôn trọng công bằng. Lúc chưa bị xúc phạm, người ta dễ nói rằng mình biết tha thứ. Nhưng khi tiền bạc nhiều hơn, quyền lực lớn hơn hoặc cơ hội trả đũa thực sự xuất hiện, câu trả lời mới trở nên rõ ràng. Nghịch cảnh cho thấy sức chịu đựng của một con người. Nhưng thuận lợi cũng là một phép thử rất lớn. Có tiền mà vẫn giữ được giới hạn. Có quyền mà không coi thường người yếu. Có lợi thế mà không biến nó thành đặc quyền vô hạn. Có khả năng trả đũa nhưng không để sự tức giận quyết định hành động. Những lúc ấy, phẩm chất của một người thường hiện ra rõ hơn rất nhiều so với những lời họ tự nói về mình. MỘT XÃ HỘI CŨNG CÓ THỂ DẠY CON NGƯỜI CÁCH SỐNG Con người không sống tách khỏi môi trường. Một xã hội luôn có những phần thưởng, hình phạt và thói quen được lặp lại mỗi ngày. Chúng dần tạo thành những chuẩn mực mà con người học theo. Nếu giữ lời luôn bị lợi dụng còn thất hứa lại thường có lợi, người ta sẽ ngày càng ít muốn giữ lời. Nếu gian dối đem lại lợi ích còn trung thực liên tục khiến người ta chịu thiệt, nhiều người sẽ bắt đầu điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đó. Nếu quyền lực không chịu trách nhiệm trước bất kỳ ai, xã hội có thể hình thành một thói quen nguy hiểm: coi quyền lực quan trọng hơn nguyên tắc. Luật pháp có thể đặt ra giới hạn bên ngoài. Nhưng một xã hội lành mạnh còn cần những giới hạn bên trong mỗi con người. Thể chế tốt không biến tất cả mọi người thành người tốt. Nó tạo ra một môi trường trong đó sự ngay thẳng có thể tồn tại, còn hành vi sai trái phải trả giá tương xứng. VĂN MINH CUỐI CÙNG VẪN LÀ CÂU CHUYỆN VỀ CÁCH SỬ DỤNG SỨC MẠNH Một xã hội có thể trở nên giàu có, có công nghệ hiện đại, có quân đội mạnh, có những thành phố lớn và những thiết chế phức tạp. Nhưng sức mạnh tự nó chưa nói hết về mức độ văn minh. Điều quan trọng còn nằm ở cách quyền lực được kiểm soát, người yếu thế được đối xử ra sao, lời hứa có giá trị đến đâu và con người có phải chịu trách nhiệm cho những gì mình làm hay không. Tri thức giúp con người làm được nhiều việc hơn. Quyền lực giúp con người tác động đến nhiều người hơn. Tiền bạc mở ra nhiều lựa chọn hơn. Nhưng càng có nhiều khả năng, con người càng cần nhiều tự chủ. Sức mạnh tạo ra khả năng. Cách sử dụng khả năng ấy mới cho thấy phẩm chất của người đang nắm giữ nó. SAU CÙNG, QUÝ TỘC HAY LƯU MANH CÓ THỂ BẮT ĐẦU TỪ MỘT LỰA CHỌN RẤT NHỎ Không ai sinh ra đã mang sẵn một tấm biển ghi mình thuộc về phía nào. Trong mỗi con người đều có lòng tham, sự ích kỷ, nỗi sợ và nhu cầu bảo vệ lợi ích của bản thân. Nhưng con người cũng có khả năng tự kiềm chế, biết giữ lời, biết xấu hổ trước điều sai và biết chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình. Những lựa chọn nhỏ được lặp lại đủ lâu sẽ trở thành thói quen. Thói quen dần hình thành tính cách. Tính cách cuối cùng tạo nên cách một người sống giữa những người khác. Vì vậy, bình dân có thể là địa vị. Quý tộc có thể là một cách sống. Còn lưu manh bắt đầu từ lúc con người sẵn sàng bán nguyên tắc của mình mỗi khi nguyên tắc ấy cản đường lợi ích. Có lẽ phép thử đơn giản nhất vẫn là: Khi không còn ai đủ sức ngăn mình làm điều xấu, mình có tự ngăn mình lại không? Bởi phẩm giá của một con người thường được nhìn thấy rõ nhất ở cách họ đối xử với người yếu hơn mình, và ở những giới hạn họ vẫn giữ được ngay cả khi chẳng có ai đứng đó để chứng kiến. Ảnh: “Đẳng cấp thứ Ba mang trên lưng Giáo sĩ và Quý tộc”, tranh biếm họa Pháp, 1789.

Nhận xét