VÌ SAO HỒI GIÁO SINH RA CÁC TỔ CHỨC KHỦNG BỐ ?

 VÌ SAO HỒI GIÁO SINH RA CÁC TỔ CHỨC KHỦNG BỐ ?

Tôn giáo nào cũng có người cực đoan, nhưng không phải tôn giáo nào cũng sinh ra được những tổ chức bạo lực có mạng lưới, nguồn tiền và khả năng tuyển mộ xuyên quốc gia như Al-Qaeda hay ISIS. Trong kỷ nguyên hiện đại, hiện tượng này gắn với Hồi giáo cực đoan chứ không phải Kitô giáo hay Phật giáo. Lời giải thích nằm ở một chuỗi yếu tố cùng hội tụ: mô hình khởi nguồn của tôn giáo, cách các nhóm cực đoan viện dẫn kinh điển, sự thiếu vắng một cuộc cải cách tương đương Cải cách Kháng Cách và Khai sáng, dòng tiền dầu mỏ gắn với tư tưởng Wahhabi, và sức hút của khái niệm Ummah.

________________________________________

HỒI GIÁO RA ĐỜI VỚI TÔN GIÁO, CHÍNH TRỊ VÀ QUÂN SỰ GẮN LIỀN NHAU

Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở lịch sử khởi đầu: Hồi giáo ra đời như một mô hình kết hợp giáo lý, chính trị và quân sự, trong khi Phật giáo và Kitô giáo thì không. Đức Phật sinh ra là hoàng tử của bộ tộc Shakya nhưng chưa từng lên ngôi, và đã từ bỏ địa vị ở tuổi 29 để đi tu (16). Cả ông lẫn Chúa Jesus đều không nắm quyền lực chính trị, không chỉ huy quân đội và không lập nhà nước. Kitô giáo thuở đầu là một phong trào bị đàn áp, còn Phật giáo là một giáo lý tu tập.

Muhammad thì vừa là nhà tiên tri, vừa là người đứng đầu nhà nước Medina, vừa trực tiếp chỉ huy các cuộc chiến tranh, trong đó có việc chiếm Mecca năm 630. Chế độ Caliphate được lập ngay sau khi ông qua đời năm 632 và tiếp tục mở rộng bằng chinh phục quân sự. Việc dùng vũ lực để bảo vệ và mở rộng tôn giáo vì thế nằm trong lịch sử hình thành từ ngày đầu.

Truyền thống Hồi giáo cổ điển cũng không có khái niệm tách tôn giáo khỏi nhà nước. Sharia bao trùm cả tín ngưỡng, pháp luật, chính trị và tổ chức xã hội. Vì vậy, tham vọng tái lập một Caliphate toàn cầu là mục tiêu chính thống trong tư tưởng của các nhóm cực đoan, và ISIS đã tuyên bố lập Caliphate vào tháng 6/2014 (3). Kitô giáo và Phật giáo hiện đại không có mục tiêu tái lập một nhà nước tôn giáo toàn cầu tương đương.

Caliphate được công nhận rộng rãi cuối cùng là Caliphate Ottoman, bị Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ bãi bỏ ngày 3/3/1924 dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal Atatürk (14). Việc khôi phục Caliphate trở thành mục tiêu của nhiều phong trào Hồi giáo ngay từ khi nó bị xóa bỏ (14), nên lời tuyên bố của ISIS năm 2014 mang sức nặng biểu tượng lớn đối với các nhóm cực đoan.

________________________________________

KINH ĐIỂN CHO PHÉP VIỆN DẪN TRỰC TIẾP ĐỂ BIỆN MINH BẠO LỰC

Các nhóm Hồi giáo cực đoan có thể trích thẳng văn bản kinh điển là Quran và Hadith để bào chữa cho bạo lực, không cần bóp méo giáo lý. Quran có những đoạn ra đời trong bối cảnh các cuộc chiến ở Medina vào thế kỷ 7, kêu gọi chiến đấu chống những kẻ không tin (Kafir).

Al-Qaeda và ISIS không cần sáng tạo lý thuyết mới. Họ đem các đoạn kinh thời chiến này áp dụng thẳng vào thời hiện đại. Trong luật học cổ điển, Jihad vũ lực, kể cả tấn công chủ động để mở rộng phạm vi của Hồi giáo, đã là nghĩa vụ tập thể do người cầm quyền quyết định (15). Điều các nhóm hiện đại làm là biến nó thành nghĩa vụ cá nhân của mọi tín đồ, không cần xin phép ai, theo hướng mà Abdullah Azzam đặt nền móng trong thế kỷ 20 (13). Kẻ thù bị nhắm tới gồm cả phương Tây lẫn những người Hồi giáo bị quy là bội giáo.

________________________________________

HỒI GIÁO CHƯA TRẢI QUA CẢI CÁCH VÀ KHAI SÁNG NHƯ KITÔ GIÁO

Khác biệt tiếp theo nằm ở khả năng tự cải cách. Kitô giáo từng trải qua Tòa án Dị giáo, Thập tự chinh và các cuộc chiến tôn giáo ở châu Âu, những giai đoạn cực kỳ bạo lực. Nhưng Kitô giáo đã đi qua hai bước ngoặt. Cải cách Kháng Cách thế kỷ 16 phá vỡ thế độc quyền diễn giải của Giáo hội, và Khai sáng thế kỷ 18 tách quyền lực giáo hội khỏi quyền lực nhà nước, buộc tôn giáo tuân thủ luật pháp thế tục và các giá trị nhân quyền.

Trong tư tưởng Hồi giáo truyền thống, nhất là dòng Salafi và Wahhabi, Quran được coi là lời trực tiếp và nguyên bản của Allah, có giá trị vĩnh cửu và không được diễn giải lại theo bối cảnh thời đại. Quan niệm cho rằng cánh cửa Ijtihad, tức quyền tự do diễn giải giáo luật, đã đóng từ khoảng thế kỷ 10 từng được nhiều học giả phương Tây và Hồi giáo chấp nhận trong nhiều thế kỷ (1). Học giả Wael Hallaq từ năm 1984 phản bác rằng trên thực tế cánh cửa này chưa bao giờ đóng hẳn, nhưng ông cũng ghi nhận các luật gia độc lập ngày càng hiếm và ý niệm về sự đóng cửa đã bám rễ rất sâu (1).

Người cố gắng cải cách hoặc hiện đại hóa giáo lý rất dễ bị buộc tội bội giáo thông qua Takfir, tức việc tuyên bố một người là kẻ không tin. Theo luật Sharia cổ điển, tội bội giáo bị trừng phạt bằng cái chết. Cái giá của việc cải cách vì thế cực cao. Hồi giáo có những nhà cải cách như Muhammad Abduh, nhưng các nỗ lực này không tạo ra một cuộc cải cách tương đương như Kitô giáo đã trải qua.

________________________________________

TIỀN DẦU MỎ ĐƯA WAHHABI THÀNH LỰC LƯỢNG TOÀN CẦU

Giáo điều bất biến chỉ trở thành lực lượng toàn cầu khi có nguồn lực đi kèm, và nguồn lực đó gắn với chủ nghĩa Wahhabi của Saudi Arabia. Wahhabi xuất hiện giữa thế kỷ 18 ở trung tâm bán đảo Ả Rập, do Muhammad ibn Abd al-Wahhab sáng lập nhằm thanh lọc Hồi giáo và đưa tôn giáo về nguyên bản thế kỷ 7, bám sát nghĩa đen của Quran. Ông liên minh với thủ lĩnh bộ tộc Muhammad ibn Saud năm 1744, liên minh này vẫn định hình đời sống chính trị và tôn giáo của Saudi Arabia đến nay. Trong một thời gian dài, ảnh hưởng của Wahhabi chủ yếu nằm trong phạm vi nhà nước Saudi, chưa phải một lực lượng toàn cầu.

Bước ngoặt là dòng tiền dầu mỏ. Sau lệnh cấm vận dầu mỏ năm 1973, doanh thu của Saudi Arabia tăng vọt, và từ thập niên 1970 nước này cùng một số nước Vùng Vịnh dùng nguồn tiền đó xây hàng nghìn thánh đường, trung tâm Hồi giáo và trường Madrasa trên khắp thế giới, đồng thời tài trợ giáo sĩ và phát hành tài liệu. Nỗ lực này tăng tốc sau cuộc cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979, khi Riyadh lo ngại Hồi giáo Sunni bị đe dọa. Con số chính xác không được công bố, nhưng các ước tính phổ biến cho rằng chi tiêu của Saudi Arabia cho việc truyền bá Wahhabi vượt quá 75 tỷ USD, và có ước tính lên tới khoảng 100 tỷ USD (6, 7, 8, 9). Đây là chi tiêu cho trường học, thánh đường và trung tâm Hồi giáo, không phải khoản tài trợ trực tiếp cho tổ chức khủng bố. Theo nhiều nhà phân tích, nguồn lực này đã lấn át các dòng Hồi giáo bản địa ôn hòa ở nhiều khu vực, từ Đông Nam Á đến Bắc Phi và châu Âu, biến cực đoan từ một hiện tượng bên lề thành một phong trào có tổ chức và tiềm lực tài chính lớn (8, 9).

Mắt xích nối tư tưởng và tiền bạc với các tổ chức khủng bố là cuộc chiến chống Liên Xô ở Afghanistan, bắt đầu sau cuộc xâm lược tháng 12/1979. Osama bin Laden, con trai một ông trùm xây dựng người Saudi, cùng Abdullah Azzam lập Maktab al-Khidamat năm 1984 để tuyển mộ và huấn luyện tình nguyện viên Ả Rập từ Saudi Arabia, các nước Vùng Vịnh, Ai Cập, Yemen và Sudan (10, 12). Al-Qaeda hình thành từ chính mạng lưới đó, với mốc 1988 thường được coi là thời điểm thành lập, rồi chuyển mũi nhọn sang Mỹ và các chế độ Ả Rập (10, 11, 12). Bin Laden tuyên chiến với Mỹ năm 1996 và vụ tấn công 11/9/2001 là đỉnh điểm (11).

________________________________________

UMMAH GIÚP TUYỂN MỘ CHIẾN BINH VƯỢT BIÊN GIỚI QUỐC GIA

Tư tưởng và tiền bạc còn cần một chất kết dính để vượt qua biên giới quốc gia. Ở Kitô giáo và Phật giáo hiện đại, ý thức quốc gia hoặc dân tộc thường đứng trên ý thức tôn giáo. Người Công giáo Pháp thấy mình là người Pháp trước khi là người Công giáo. Trong Hồi giáo, khái niệm Ummah, tức cộng đồng tín đồ toàn cầu, có sức hút đặc biệt mạnh. Một xung đột xảy ra với người Hồi giáo ở bất cứ đâu, như Palestine, Chechnya hay Kashmir, đều có thể bị truyền thông cực đoan biến thành cuộc chiến của toàn bộ Ummah chống lại thế giới bên ngoài.

Điều này giải thích dòng chiến binh nước ngoài đổ về các tổ chức như ISIS. Theo ước tính của Soufan Group, hơn 40.000 người từ hơn 110 quốc gia đã đến Syria và Iraq, phần lớn để gia nhập ISIS (3). Riêng Tây Âu có khoảng 5.000 người tính đến năm 2015, trong đó khoảng 3.700 người đến từ bốn nước là Pháp, Đức, Bỉ và Anh (2, 4, 5). Nhiều người trong số họ sinh ra và lớn lên ở phương Tây nhưng sẵn sàng từ bỏ cuộc sống hiện đại để sang Trung Đông chiến đấu. Không có tôn giáo lớn nào khác hiện nay tạo ra được dòng 

tuyển mộ xuyên quốc gia ở quy mô đó.

________________________________________

NGUỒN THAM KHẢO

(1) Wael B. Hallaq, bài nghiên cứu "Was the Gate of Ijtihad Closed?", International Journal of Middle East Studies, 1984

(2) The Soufan Group, báo cáo về dòng chiến binh nước ngoài vào Syria và Iraq, tháng 12/2015

(3) The Soufan Center, báo cáo "Beyond the Caliphate: Foreign Fighters and the Threat of Returnees", tháng 10/2017, cùng bài tường thuật của RFE/RL ngày 24/10/2017

(4) World Economic Forum và Quartz, "Which countries send the most foreign fighters to Iraq and Syria?", 2015

(5) Al Jazeera, "The real threat of foreign fighters in Syria", 2015

(6) NBC News, "Saudi export of strict Islam raises suspicions"

(7) PolitiFact, bài kiểm chứng phát biểu của Russ Feingold về việc Saudi Arabia xuất khẩu chủ nghĩa cực đoan, 2016

(8) The Globe and Mail, "How to shut down the jihad factories"

(9) Yale Global Online, "Exporting Intolerance"

(10) Mapping Militants Project (Đại học Stanford), hồ sơ về Al-Qaeda

(11) Congressional Research Service, "Al Qaeda: Profile and Threat Assessment"

(12) EBSCO Research Starters, "Osama bin Laden Forms al-Qaeda"

(13) Abdullah Azzam, "Defence of the Muslim Lands"

(14) Martin Kramer, "A century without a caliph", 2024

(15) Islamic Law Blog, "The Modern Transformation of the Duty to Fight", 2020

(16) Encyclopedia of Buddhism, mục Śuddhodana, và Tricycle, "Who was the Buddha's family?"


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bàn về phạm trù Thiện - ác - Hoàng Văn Thuận

Francis Bacon (1561 - 1626) - một trong những người sáng lập triết học Cận đại

Thuật dùng người của Hàn Phi Tử