TƯ DUY NHỊ NGUYÊN VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TƯ DUY NHỊ NGUYÊN VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
Ở một số xã hội, cảnh sát, quân đội và công chức nhà nước mặc nhiên được xem là người tốt, còn cá nhân hay nhóm nào mâu thuẫn với nhà nước thì dễ bị gán nhãn xấu, bất kể nội dung mâu thuẫn là gì. Các nghiên cứu về xã hội học chính trị, tâm lý học xã hội và văn hóa học cho thấy kiểu tư duy này không phân bố đồng đều. Mức độ của nó cao hay thấp phụ thuộc vào cấu trúc thể chế, truyền thống văn hóa, lịch sử và cách truyền thông, giáo dục vận hành ở từng xã hội.
________________________________________
HIỆN TƯỢNG VÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA CÁC XÃ HỘI
Cách chia nhóm cao và thấp dưới đây là phân loại theo xu hướng chung của từng xã hội, chưa dựa trên một chỉ số đo lường thống nhất. Ở nhóm xã hội có mức nhị nguyên cao, pháp luật và đạo đức bị đánh đồng với nhau. Điều gì nhà nước làm hoặc đại diện được coi là đúng và tốt, điều gì đối lập với nhà nước mặc định bị coi là xấu hoặc nguy hiểm. Cảnh sát và quân đội trở thành biểu tượng của trật tự, đạo đức và quốc gia. Người biểu tình, khiếu kiện hay phản đối chính sách bị gọi là kẻ gây rối, phản động, thậm chí phản quốc.
Ở nhóm có mức nhị nguyên thấp, thường là các nền dân chủ pháp trị như Bắc Âu, Tây Âu, Úc và New Zealand, công chức, cảnh sát và quân đội được nhìn như người làm thuê cho công chúng, thực thi chức năng quản lý và kỹ thuật chứ không đại diện cho chuẩn mực đạo đức tuyệt đối. Người dân tách tính hợp pháp khỏi tính đạo đức. Biểu tình, đình công hay phản đối chính sách là quyền dân sự hợp pháp, còn cảnh sát lạm quyền bị xem là sai phạm cần xử lý ngay.
Nghiên cứu của Geert Hofstede về các chiều kích văn hóa cung cấp một khung giải thích cho khác biệt này [1]. Trong các xã hội có khoảng cách quyền lực cao và tính tập thể cao, theo cách diễn giải phổ biến, người dân có xu hướng phục tùng quyền lực và coi người đại diện quyền lực là lực lượng giữ ổn định [1]. Người xung đột với nhà nước vì thế dễ bị coi là kẻ phá rối, làm mất trật tự và đoàn kết. Ở các xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, hoài nghi và giám sát quyền lực nhà nước được xem là bổn phận công dân lành mạnh [1]. Các chiều kích này được đo ở cấp quốc gia, nên chỉ là khung giả thuyết cho xu hướng chung chứ không phải bằng chứng nhân quả về niềm tin của từng cá nhân.
________________________________________
CƠ CHẾ TÂM LÝ ĐỨNG SAU TƯ DUY NHỊ NGUYÊN
Lý thuyết Bào chữa cho Hệ thống (System Justification Theory) do John Jost và Mahzarin Banaji đề xuất năm 1994 cho rằng con người có động cơ bảo vệ và hợp lý hóa trật tự xã hội đang tồn tại, kể cả khi trật tự đó bất công hay thiếu minh bạch [2]. Khi chứng kiến lực lượng chức năng bạo lực hoặc lạm quyền, người ta rơi vào xung đột nhận thức, vì không muốn tin rằng lực lượng giữ trật tự lại là nguồn đe dọa. Cách giải tỏa tốn ít sức nhất là quay sang nghi ngờ nạn nhân. Chuỗi suy luận khi đó là cảnh sát bảo vệ ta, nên cảnh sát là người tốt, nên ai bị họ xử lý hẳn đã làm điều gì sai.
Lý thuyết nêu 3 nhu cầu thúc đẩy kiểu suy luận này [2]. Nhu cầu nhận thức là ưu tiên sự rõ ràng và nhất quán, mà cách nghĩ trắng đen đơn giản hơn nhiều so với việc phân tích bức tranh thể chế và pháp lý phức tạp. Nhu cầu an toàn là muốn tin bộ máy quyền lực đang che chắn mình khỏi hỗn loạn. Nhu cầu quan hệ là đồng thuận với số đông để khỏi bị coi là kẻ lệch chuẩn trong cộng đồng.
Giả thuyết Thế giới Công bằng của Melvin Lerner đóng góp một mảnh tương tự [3]. Người ta muốn tin rằng người tốt gặp điều tốt và kẻ xấu bị trừng phạt, nên khi nhà nước xử lý một cá nhân hay một nhóm, họ suy ra bên bị xử lý hẳn có lỗi. Về mặt học thuật, System Justification Theory vẫn là lý thuyết còn tranh luận. Các nhà nghiên cứu theo hướng bản sắc xã hội phản đối ý rằng có một động cơ bào chữa hệ thống riêng biệt, và một bài phân tích năm 2016 chỉ ra điểm không nhất quán giữa lý thuyết này với lý thuyết bất hòa nhận thức mà nó dựa vào [4].
________________________________________
GỐC RỄ LỊCH SỬ CỦA SỰ KHÁC NHAU
Các khác biệt và cơ chế nêu trên mới chỉ là bề nổi. Gốc rễ sâu hơn nằm ở cách quyền lực được hình thành, phân bổ và dùng để bảo vệ tài sản, sự sống trong lịch sử của từng xã hội.
Nguồn gốc sinh tồn là yếu tố đầu tiên. Karl Wittfogel, trong Oriental Despotism năm 1957, cho rằng các xã hội phụ thuộc vào thủy lợi và trị thủy quy mô lớn phải gom quyền lực vào một trung tâm tập quyền để đối phó thiên tai [5]. Cá nhân không thể sống sót nếu tách khỏi tập thể và bộ máy điều hành, nên quan lại và quân đội được nhìn như lực lượng cứu sinh, còn chia rẽ và mâu thuẫn bị coi là thảm họa. Trái lại, ở các xã hội chăn nuôi, săn bắn và thương mại hàng hải như Địa Trung Hải và Tây Âu, sinh tồn dựa vào tính chủ động của từng gia đình, bộ tộc hay thương thuyền và vào hợp đồng tự nguyện. Nhà nước ra đời muộn hơn và đóng vai trọng tài do các bên thuê để giữ trật tự.
Cần nói rõ rằng thuyết của Wittfogel bị giới khảo cổ học phản bác mạnh. Bằng chứng hiện nay cho thấy ở Lưỡng Hà, Trung Quốc và Mexico, nhà nước đã hình thành trước khi có thủy lợi quy mô lớn, và nhà nhân học Robert McCormick Adams cho rằng thủy lợi tối đa chỉ góp phần củng cố quyền lực trong một hệ thống kinh tế và chính trị rộng hơn [6]. Vì vậy thuyết này chỉ nên xem là gợi ý về mối liên hệ giữa nhu cầu phối hợp tập thể và tập quyền, không phải một nguyên nhân đã được chứng minh.
Nguồn gốc pháp lý và tài sản là yếu tố thứ hai. Trong các thể chế chịu ảnh hưởng Nho giáo hoặc thần quyền, nhà nước cai trị dựa trên mệnh trời và tư cách đạo đức vượt trội, luật pháp chỉ là công cụ hình phạt còn nền tảng quản trị là đạo đức và lễ nghi. Khi bộ máy nhà nước mang danh đạo đức, ai chống lại hay mâu thuẫn với nó đều bị coi là thiếu đạo đức.
Truyền thống hợp đồng xã hội theo hướng của John Locke, nền tảng của tư tưởng chính quyền hạn chế, đi theo hướng ngược lại. Tài sản và quyền tự nhiên của con người có trước nhà nước, người dân đóng thuế lập ra nhà nước gồm cảnh sát và quân đội để bảo vệ tài sản cho mình. Cảnh sát và công chức vì thế là bên nhận thầu dịch vụ an ninh, nếu làm sai thì bị kiện, phản đối hoặc thay thế, và mâu thuẫn chỉ là tranh chấp hợp đồng, không liên quan đến chuyện tốt xấu về đạo đức.
Lịch sử chiến tranh và nỗi bất an tập thể là yếu tố thứ ba. Các quốc gia liên tục bị ngoại xâm, chia cắt hoặc nội chiến đẫm máu mang một chấn thương tập thể, trong đó mất trật tự là mối đe dọa sinh tồn lớn nhất. Lực lượng vũ trang và chính quyền được xem là lá chắn duy nhất, nên ai làm yếu lá chắn đó, dù vì lý do chính đáng, cũng bị xã hội trừng phạt về mặt tư tưởng. Những nước có lịch sử an toàn hơn, như Thụy Điển không có chiến tranh từ năm 1814 đến nay, có không gian tâm lý để xem tranh chấp với nhà nước là chuyện bình thường [28].
Tiến trình Khai sáng là yếu tố thứ tư. Từ thế kỷ 17 và 18, các phong trào triết học phương Tây giải ma thuật bộ máy quyền lực, tách đạo đức và tôn giáo, vốn thuộc về cá nhân, khỏi chính trị và công vụ, vốn là kỹ thuật quản lý. Ở nơi chưa trải qua hoặc trải qua chưa triệt để quá trình này, quyền lực còn mang màu sắc thiêng liêng, và phản đối quyền lực mang dáng dấp của kẻ báng bổ.
Ở nhiều quốc gia Trung Đông và thế giới Hồi giáo, tư duy nhị nguyên coi nhà nước và tôn giáo là chân lý, còn mâu thuẫn với hệ thống là tội lỗi, được neo giữ bởi 3 cột trụ. Đây là cách tổng hợp các lý giải thường gặp cho một số nhà nước, không phải mô hình đã kiểm định cho toàn khu vực.
Cột trụ thứ nhất là sự hợp nhất giữa chính trị và tôn giáo. Trong các nhà nước Hồi giáo toàn diện hoặc quân chủ thần quyền, luật nhà nước bắt nguồn từ luật Sharia, nên người đại diện nhà nước như quốc vương, giáo sĩ hay lực lượng an ninh không đơn thuần là công chức mà là người giữ trật tự đạo đức của Thượng đế. Mọi phản đối nhắm vào nhà nước vì thế không chỉ là bất đồng chính trị mà bị coi là báng bổ, phản bội đức tin.
Cột trụ thứ hai là văn hóa bộ lạc và chủ nghĩa danh dự. Cấu trúc xã hội truyền thống dựa trên mạng lưới bộ lạc và gia tộc khép kín, trong đó trung thành tuyệt đối với tộc trưởng là điều kiện sinh tồn và bất đồng nội bộ là tội làm nhục cả dòng họ. Khi nâng lên quy mô quốc gia, nhà nước được hình dung như một đại bộ lạc, lãnh tụ và quân đội đóng vai tộc trưởng, còn mâu thuẫn với nhà nước là phản bội danh dự tập thể.
Cột trụ thứ ba là hội chứng vây hãm sau một lịch sử dày đặc can thiệp ngoại bang, tranh chấp biên giới và xung đột giáo phái, sắc tộc và chính trị, trong đó có xung đột giữa Sunni và Shia. Kịch bản Iraq, Libya và Syria sau khi các chế độ tập quyền sụp đổ củng cố niềm tin rằng chỉ một lực lượng an ninh mạnh mới giữ cho đất nước khỏi ly tán. Người dân vì thế tự nguyện hoặc buộc phải chấp nhận rằng cảnh sát và quân đội đàn áp người chống đối là chính nghĩa.
Nga là trường hợp điển hình của chủ nghĩa tư bản nhà nước kết hợp với di sản Sa hoàng và Xô Viết, và nhị nguyên ở đây dựa trên 3 trụ cột. Trụ cột thứ nhất là truyền thống lãnh tụ mạnh. Từ thời Sa hoàng qua Liên Xô đến Nga hiện đại, nước này không có truyền thống dài lâu về nhà nước pháp quyền tự do kiểu phương Tây mà gắn với hình mẫu lãnh tụ mạnh, người bảo hộ tối cao. Nhà nước không được nhìn như cơ quan hành chính do dân đóng thuế để phục vụ dân, mà như đại diện thiêng liêng của một cường quốc có sứ mệnh chống lại thế lực thù địch bên ngoài.
Tâm lý pháo đài bị vây hãm là trụ cột thứ hai. Lãnh thổ khổng lồ của Nga liên tục bị xâm lược từ mọi phía, từ Mông Cổ, Napoléon đến Đức Quốc xã, nên xã hội rất nhạy cảm với ngoại xâm và bất ổn nội địa. Truyền thông nhà nước nuôi dưỡng chuỗi suy luận rằng nước Nga đang bị bao vây, FSB, quân đội và chính quyền là lá chắn sinh tử, nên ai chống chính quyền nội địa là kẻ bán nước hoặc tay sai nước ngoài. Luật tác nhân nước ngoài ra đời từ năm 2012, được mở rộng và làm mơ hồ hơn vào cuối năm 2022, áp đặt quy định hà khắc lên tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị có nhận tiền từ nước ngoài [7, 29]. Một đạo luật riêng, ban hành tháng 3 năm 2022 sau khi Nga tấn công Ukraine, hình sự hóa việc phát tán thông tin bị coi là cố ý sai lệch về quân đội, với mức phạt tối đa 15 năm tù [7, 8].
Trụ cột thứ ba là thỏa thuận ngầm giữa nhà nước và xã hội. Nhà nước bảo đảm trật tự, an ninh và cải thiện mức sống, bù lại người dân không thách thức quyền lực trung ương.
Số phận của Alexei Navalny cho thấy cách thỏa thuận đó vận hành. Ngày 4 tháng 8 năm 2023, Tòa án Thành phố Moscow tuyên ông thêm 19 năm tù về tội cực đoan, trong phiên xử kín tại trại giam ở Melekhovo, vùng Vladimir, cách Moscow khoảng 260 km, và việc đọc bản án mất chưa đầy 10 phút [9, 10]. Đây là án bổ sung, cộng với 11,5 năm ông đang thụ án thì tổng mức án vượt 30 năm [7, 11]. Ông bị giam ở nhà tù an ninh tối đa dành cho tội phạm tái phạm đặc biệt nguy hiểm và người bị án chung thân [10]. Những người ủng hộ ông cho rằng các cáo buộc này hình sự hóa hồi tố toàn bộ hoạt động của Quỹ Chống Tham nhũng kể từ khi thành lập năm 2011 [9]. Ông qua đời trong trại giam vào tháng 2 năm 2024 [26]. Truyền thông nhà nước định khung các hoạt động đối lập như vậy thành tội phạm hình sự hoặc hành vi phá hoại an ninh quốc gia, qua đó củng cố tư duy nhị nguyên trong xã hội.
Sự khác biệt vì thế là kết quả của 2 chiến lược thích nghi. Một bên ưu tiên ngưng kết tập thể và phục tùng để chống các đe dọa sinh tồn quy mô lớn, một bên ưu tiên cân bằng quyền lực và giám sát vì điều kiện lịch sử cho phép họ tập trung ngăn chặn sự lạm quyền của bộ máy cai trị.
________________________________________
TRUYỀN THÔNG VÀ GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Truyền thông không chỉ phản ánh mà còn định khung nhận thức. Ở xã hội nhị nguyên cao, tin về mâu thuẫn giữa dân và chính quyền dùng các tính từ đạo đức tiêu cực cho bên đối lập như kẻ gây rối, thành phần bất hảo, kích động, và từ ngữ tôn vinh cho lực lượng chức năng như kiên quyết, giữ gìn trật tự. Ở xã hội nhị nguyên thấp, báo chí dùng ngôn ngữ pháp lý trung tính như người biểu tình, bên tranh chấp, lực lượng thi hành công vụ. Truyền thông cũng thường nhấn mạnh sự vất vả và hy sinh của lực lượng chức năng để kích hoạt lòng trắc ẩn của công chúng, đồng thời triệt tiêu cảm thông với phía mâu thuẫn.
Khi dòng thông tin chính thống chiếm ưu thế tuyệt đối và thiếu phản biện độc lập, công chúng không có dữ liệu đối chứng. Theo giả thuyết thiết lập chương trình nghị sự của Maxwell McCombs và Donald Shaw, truyền thông ảnh hưởng đến việc công chúng coi vấn đề nào là quan trọng [12]. Khi chỉ có một nguồn thông tin lặp đi lặp lại, nguồn đó gần như quyết định khung để công chúng đánh giá. Thuật toán mạng xã hội thì khuếch đại các nội dung kích động kiểu chúng ta chống lại chúng nó, vốn lan nhanh hơn các phân tích đa chiều. Ở xã hội có báo chí độc lập, truyền thông đóng vai quyền lực thứ tư, xét đúng sai theo hiến pháp, luật pháp và quyền con người chứ không theo vị thế đạo đức hay chức vụ của hai bên.
Giáo dục công dân là kênh củng cố từ sớm nhất. Trong mô hình phục tùng, chương trình làm mờ ranh giới giữa đất nước, dân tộc và chính quyền đương nhiệm, nên phản đối chính quyền bị suy ra thành chống lại Tổ quốc. Hình ảnh cảnh sát, quân đội, quan chức được thánh hóa qua các hình mẫu hy sinh và vô tư, hiếm khi xuất hiện tình huống lạm quyền hay tham nhũng, nên học sinh sốc hoặc phủ nhận khi gặp sai phạm thật ngoài đời. Công dân tốt được định nghĩa bằng chấp hành, không gây rối, giữ ổn định, còn biểu tình hay khiếu kiện nhà nước bị khắc họa như hành vi bất ổn do kẻ xấu xúi giục.
Phương pháp sư phạm củng cố thêm điều đó. Học sinh học thuộc chuẩn mực, đề thi dẫn tới đáp án có sẵn, giáo viên là người phán xét, còn học sinh cãi lại giáo viên hay sách giáo khoa bị trừ điểm hoặc gán nhãn hỗn láo. Với tình huống lực lượng chức năng giải tỏa đất, câu hỏi hướng học sinh tới kết luận người dân phải chấp hành vì lợi ích chung, thay vì thảo luận về cân bằng giữa lợi ích công cộng và quyền sở hữu tài sản tư nhân theo pháp luật.
Hệ quả dài hạn là 2 trạng thái cực đoan khi trưởng thành. Một là phục tùng mù quáng, sẵn sàng bào chữa mọi sai phạm của công chức và công kích tập thể những người lên tiếng phản biện. Hai là khi tự mình trải qua bất công từ công quyền mà chưa từng được dạy cách tách cá nhân sai phạm khỏi thể chế, niềm tin sụp đổ hoàn toàn và chuyển từ sùng bái tuyệt đối sang chống đối cực đoan.
________________________________________
ĐỒNG THUẬN BEUTELSBACH CỦA ĐỨC
Đồng thuận Beutelsbach là mô hình đối lập tiêu biểu với giáo dục kiểu phục tùng. Nó được hình thành tại một hội nghị về vấn đề đồng thuận trong giáo dục chính trị, do Trung tâm Giáo dục Chính trị bang Baden-Württemberg tổ chức ở Beutelsbach vào mùa thu năm 1976, và đến nay vẫn là khung tham chiếu của giáo dục chính trị ở Đức [14, 15]. Hội nghị không biểu quyết thông qua văn kiện nào [14]. 3 nguyên tắc do Hans-Georg Wehling, khi đó là cán bộ của Trung tâm, tổng hợp trong bài tường thuật hội nghị công bố năm 1977, và chúng không phải quy phạm pháp lý [13, 14]. Cả 3 nguyên tắc bổ trợ nhau.
Nguyên tắc thứ nhất là cấm áp đặt. Giáo viên không được dùng vị thế quyền lực để áp đặt quan điểm chính trị hay đạo đức của cá nhân hoặc nhà nước lên học sinh, nên học sinh không bị ép tin rằng lực lượng chức năng luôn đúng hay mâu thuẫn với chính quyền là xấu [15].
Nguyên tắc thứ hai là giữ nguyên bản chất tranh chấp. Vấn đề còn tranh cãi trong khoa học hoặc chính trị phải được dạy như một tranh cãi, với đầy đủ luận điểm ủng hộ, luận điểm phản đối và cơ sở pháp lý của từng bên. Khi bàn về chính sách của nhà nước hay hành động của cảnh sát, không được giấu quan điểm đối lập hay khắc họa phía phản đối như kẻ gây rối [15].
Nguyên tắc thứ ba là hướng theo học sinh. Học sinh được trang bị để tự phân tích một đạo luật mới hay một hành động công vụ ảnh hưởng thế nào đến lợi ích, quyền tự do và đời sống của chính mình, thay vì phục tùng cảm tính dưới danh nghĩa lợi ích chung chung [15].
Các văn bản hướng dẫn của Đức, như tài liệu của bang Sachsen, nhấn mạnh rằng Đồng thuận Beutelsbach thường bị hiểu nhầm là trung lập, trong khi nó gắn với trật tự tự do dân chủ của hiến pháp [16]. Mục đích là để công dân nhìn quan chức, cảnh sát và quân đội như những người nhận lương từ tiền thuế để thực thi dịch vụ công, chứ không phải đại diện tuyệt đối cho công lý.
________________________________________
SAUDI ARABIA: TỪ NHỊ NGUYÊN TÔN GIÁO SANG NHỊ NGUYÊN DÂN TỘC
Saudi Arabia là trường hợp cho thấy xã hội có thay đổi theo thời gian. Tuy vậy giới nghiên cứu nhấn mạnh hiện đại hóa kinh tế và xã hội không đồng nghĩa với tự do hóa chính trị hay dân chủ hóa [21]. Những gì đang diễn ra là sự thay đổi vai trò của tôn giáo trong việc định hình công dân chứ không phải thế tục hóa hoàn toàn [21].
Tháng 4 năm 2016, Hội đồng Bộ trưởng Saudi Arabia ban hành quy định tước quyền bắt giữ, truy đuổi, yêu cầu giấy tờ tùy thân của cảnh sát tôn giáo Mutawa, tức Ủy ban Thúc đẩy Đức hạnh và Ngăn chặn Tội lỗi [17, 18, 19]. Lực lượng này phải khuyên nhủ nhẹ nhàng và chuyển người vi phạm cho cảnh sát thường [18, 19]. Trước đó, ngày 11 tháng 3 năm 2002, một vụ cháy trường nữ sinh ở Mecca làm 15 em tử vong [20]. Theo báo chí và nhân chứng thời đó, cảnh sát tôn giáo bị cáo buộc ngăn các em thoát ra hoặc được cứu vì không che kín người đúng quy định [20, 30]. Ngày 25 tháng 3 năm 2002, cuộc điều tra của chính quyền do thống đốc Mecca đứng đầu bác bỏ cáo buộc này và quy trách nhiệm cho cơ quan giáo dục nữ sinh vì lơ là an toàn [20]. Cùng với Tầm nhìn 2030 của Thái tử Mohammed bin Salman, phụ nữ được lái xe từ tháng 6 năm 2018 [27].
Theo Madawi Al-Rasheed, chuyên gia về Saudi Arabia tại Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London, Thái tử Mohammed bin Salman đang dẫn dắt một chủ nghĩa dân tộc dân túy do nhà nước chỉ đạo, mà bà gọi là chủ nghĩa dân tộc theo sắc lệnh hoàng gia, xoay quanh lòng trung thành với chính Thái tử [21]. Hình mẫu công dân lý tưởng chuyển từ tín đồ ngoan đạo nghe theo giáo sĩ sang thần dân trung thành và có tinh thần kinh doanh [21]. Năm 2017, nhiều học giả tôn giáo và trí thức Hồi giáo bị bắt, những người còn lại tự kiểm duyệt hoặc đảo ngược lập trường trước đây [21].
Về dân chủ, đây là mô hình hiện đại hóa độc tài. Lý thuyết hiện đại hóa của Ronald Inglehart và Christian Welzel dự đoán phát triển kinh tế sẽ kéo theo đòi hỏi dân chủ [22]. Nhưng ở quốc gia giàu tài nguyên kiểu nhà nước thu tô như Saudi Arabia, nhà nước đáp ứng quyền lợi kinh tế và sự thoải mái xã hội để đổi lấy việc người dân không đòi quyền lực chính trị. Hãng tin AFP ghi nhận các cải cách đi kèm với đàn áp người bất đồng, nên hiện đại hóa ở đây không kéo theo mở cửa chính trị [23].
Với mô hình này, trục nhị nguyên chuyển dịch. Nhị nguyên tôn giáo, vốn phân biệt ngoan đạo với tội lỗi qua nhạc hội, trang phục và hành vi công cộng, giảm đi rõ rệt. Nhị nguyên chính trị tăng lên, với một bên là người ủng hộ Tầm nhìn 2030 và hoàng gia, được coi là yêu nước, tiến bộ, người tốt. Bên kia là ai cất tiếng nghi ngờ hay phản biện. Theo Al-Rasheed, người bị coi là đối lập thường bị gán nhãn kẻ phản bội hoặc tay sai của chính phủ thù địch [21]. Bà dẫn việc báo chí nhà nước mô tả Jamal Khashoggi là kẻ thù của nhà nước, còn các nhà hoạt động nữ quyền Loujain al-Hathloul và Aziza al-Yousif là kẻ phản bội trong lúc họ bị giam [21].
Vùng xám trong đời sống chính trị gần như bị loại bỏ. Tháng 9 năm 2017, một đợt bắt giữ nhắm vào các giáo sĩ, nhà văn, học giả và nhà kinh tế, trong đó có giáo sĩ Salman al-Awda và nhà kinh tế Essam al-Zamil [24]. Theo gia đình, ông al-Awda bị bắt sau khi đăng một dòng tweet được xem là kêu gọi hòa giải vùng Vịnh, thay vì ủng hộ việc cô lập Qatar [24]. Trên mạng xã hội, lực lượng ủng hộ chính phủ, thường gọi là ruồi mạng, tấn công những người bị coi là chưa đủ yêu nước [25]. Theo New Arab, các chiến dịch của họ nhiều lần dẫn tới việc bị bắt, mất việc và bị quấy rối, còn nhiều người đóng tài khoản hoặc phô diễn lòng yêu nước để tránh nghi ngờ [25].
Logic của trục mới dựa trên một sự đánh đổi. Nhà nước mang lại tự do về lối sống, cơ hội kinh tế và sự an toàn giữa một Trung Đông nhiều xung đột. Chuỗi suy luận mà trục nhị nguyên này khuyến khích là chính quyền cho ta cuộc sống hiện đại, nên ai mâu thuẫn với chính quyền là muốn phá hủy cuộc sống này, nên kẻ đó là kẻ xấu.
________________________________________
NGUỒN TÀI LIỆU
[1] Geert Hofstede, các nghiên cứu về chiều kích văn hóa quốc gia (khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân)
[2] John T. Jost và Mahzarin R. Banaji (1994), bài về System Justification Theory, British Journal of Social Psychology
[3] Melvin Lerner, các công trình về Giả thuyết Thế giới Công bằng
[4] Chuma K. Owuamalam, Mark Rubin và Russell Spears (2016), The System Justification Conundrum: Re-Examining the Cognitive Dissonance Basis for System Justification, Frontiers in Psychology
[5] Karl A. Wittfogel (1957), Oriental Despotism: A Comparative Study of Total Power
[6] Encyclopaedia Britannica, mục hydraulic civilization (gồm nhận định của Robert McCormick Adams)
[7] CNN (2023), Kremlin critic Alexey Navalny given more jail time on extremism charges
[8] Global News và Associated Press (2022), các bài về đạo luật hình sự hóa thông tin sai lệch về quân đội Nga
[9] Associated Press (2023), Russia sentences Kremlin critic Navalny to another 19 years in prison
[10] Human Rights Watch (2023), Russia: Grim New Sentence for Alexey Navalny
[11] Al Jazeera (2023), Russia's Navalny loses appeal against 19-year jail term
[12] Maxwell McCombs và Donald Shaw, các công trình về thuyết thiết lập chương trình nghị sự
[13] Hans-Georg Wehling (1977), bài trong Das Konsensproblem in der politischen Bildung
[14] Landeszentrale für politische Bildung Baden-Württemberg, tài liệu về sự hình thành của Beutelsbacher Konsens
[15] Bundeszentrale für politische Bildung (bpb), chuyên đề 50 năm Beutelsbacher Konsens
[16] Bộ Giáo dục bang Sachsen (2023), Handreichung về tính trung lập của nhà trường trong nhà nước pháp quyền dân chủ
[17] Human Rights Watch (2016), Saudi Arabia: A Move to Curb Religious Police Abuses
[18] Al Jazeera (2016), Saudi Arabia strips religious police of arresting power
[19] Associated Press (2016), New Saudi guidelines curtail powers of religious police
[20] Wikipedia, mục 2002 Mecca girls' school fire
[21] Madawi Al-Rasheed (2020), The new populist nationalism in Saudi Arabia: imagined utopia by royal decree, LSE Middle East Centre Blog
[22] Ronald Inglehart và Christian Welzel, lý thuyết hiện đại hóa
[23] Agence France-Presse (qua Kuwait Times), Changing times for Saudis once feared mutawa
[24] Human Rights Watch (2018), Saudi Arabia: Cleric Held 4 Months Without Charge
[25] The New Arab, Saudi Arabia seeks to tame powerful cyber armies
[26] The Inquirer, Explainer: Alexei Navalny's death: What do we know?
[27] UPI (2018), Women legally drive for first time in Saudi Arabia
[28] Associated Press (2024), As Sweden joins NATO, it bids farewell to more than two centuries of neutrality
[29] Human Rights Watch (2022), Russia: New Restrictions on Foreign Agents
[30] Human Rights Watch (2002), Saudi Arabia: Religious Police Role in School Fire Criticized
Nhận xét
Đăng nhận xét