Krishnamurti - chân lý không lối vào

 

𝐊𝐫𝐢𝐬𝐡𝐧𝐚𝐦𝐮𝐫𝐭𝐢 - 𝐜𝐡𝐚̂𝐧 𝐥𝐲́ 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐥𝐨̂́𝐢 𝐯𝐚̀𝐨

Sau chuỗi bài về lịch sử Phật giáo Việt Nam, tôi đi qua Thiền, Tịnh Độ, Mật tông, rồi đến Goenka.
Nhìn lại, những thứ ấy khá khác nhau, nhưng hình như chúng đều nằm trên một dòng chảy: con người tìm kiếm sự hiểu biết bằng cách nào, và dựa vào đâu để đi trên con đường ấy.
Có người đi qua kinh điển, có người đi qua nghi lễ và biểu tượng, có người niệm Phật, có người ngồi xuống quan sát thân và tâm. Những con đường ấy khác nhau, thậm chí đôi khi tranh luận với nhau, nhưng vẫn có một điểm chung: đó là những con đường.
Rồi đến Krishnamurti (sau đây có chỗ tôi sẽ viết tắt là K), tôi thấy câu hỏi bắt đầu đổi hướng. Nếu Goenka kéo người ta trở về với kinh nghiệm trực tiếp, đừng chỉ biết về vô thường mà hãy tự mình quan sát vô thường, thì K dường như hỏi tiếp: Tại sao anh cần một phương pháp để nhìn? Tại sao phải có một con đường? Tại sao phải có người dẫn đường?
Câu hỏi ấy nếu chỉ nằm trong một cuốn sách triết học thì cũng chẳng đặc biệt lắm.
Nhưng cuộc đời Krishnamurti lại khiến nó trở nên rất khác, bởi ngay từ khi còn là một cậu bé, ông đã được một tổ chức chuẩn bị để trở thành một vị thầy cho cả thế giới. Và điều kỳ lạ nhất trong câu chuyện ấy là: đến một lúc, chính ông lại bước ra khỏi vai trò mà người ta đã chuẩn bị cho ông.
CẬU BÉ ĐƯỢC CHỌN
Jiddu Krishnamurti sinh ngày 11 tháng 5 năm 1895 tại Madanapalle, miền Nam Ấn Độ, trong một gia đình Bà-la-môn. Năm 1909, khi mới khoảng mười bốn tuổi, ông được Charles Webster Leadbeater, một nhân vật quan trọng của Hội Thông Thiên Học, chú ý tại Adyar. Leadbeater tin rằng cậu bé này có những đặc điểm đặc biệt và có thể trở thành nơi một “Bậc Thầy Thế giới” (World Teacher) sẽ biểu hiện. Annie Besant, lúc đó là một trong những lãnh đạo quan trọng nhất của Hội Thông Thiên Học, sau đó trở thành người bảo trợ cho Krishnamurti và em trai ông là Nityananda.
Đầu thế kỷ XX, trong thế giới của Hội Thông Thiên Học, những ý tưởng như vậy không phải chuyện hoàn toàn bên lề. Hội này tìm cách kết hợp nhiều truyền thống tôn giáo, triết học và huyền học Đông phương với một cách nhìn mới về sự tiến hóa tinh thần của nhân loại. Krishnamurti, một cậu bé Ấn Độ còn rất trẻ, được đặt vào đúng trung tâm của niềm tin ấy. Ông được giáo dục, được huấn luyện, được đưa đi đây đó và dần được chuẩn bị cho một vai trò mà người lớn đã hình dung từ trước.
Năm 1911, Order of the Star in the East - Hội Ngôi Sao Phương Đông - được thành lập, với Krishnamurti ở vị trí trung tâm. Mục đích của tổ chức là chuẩn bị cho sự xuất hiện của World Teacher. Hàng nghìn người trên thế giới bắt đầu chờ đợi một sự kiện lớn: ngày vị Thầy ấy xuất hiện.
Nghĩ lại hoàn cảnh đó, tôi thấy khá choáng ngợp. Một đứa trẻ còn chưa kịp sống một đời sống bình thường đã được nói rằng đời mình có một sứ mệnh đặc biệt. Người khác nhìn thấy tương lai nơi nó, đặt tên cho tương lai ấy, xây dựng tổ chức quanh tương lai ấy, rồi hàng nghìn người chờ đợi. Khi cả thế giới nói với một người rằng anh là một người đặc biệt, rất khó để anh biết đâu là mình và đâu là hình ảnh mà người khác đã dựng lên về mình.
Có lẽ Krishnamurti cũng đã mất khá nhiều năm để tìm ra câu trả lời cho chính chuyện đó.
LỚN LÊN
Những năm tiếp theo không phải câu chuyện một cậu bé ngoan ngoãn đi theo sứ mệnh đã được giao. Krishnamurti trưởng thành, trải qua những biến động tâm lý và tinh thần sâu sắc, đặc biệt trong những năm 1920. Đồng thời, mối quan hệ của ông với chính vai trò “World Teacher” ngày càng trở nên phức tạp. Càng về sau, ông càng không còn muốn nhìn mình qua cái vai mà người khác đã đặt lên người ông từ thời thơ ấu.
Có một biến cố tôi nghĩ không nên bỏ qua nếu muốn hiểu con người K: cái chết của người em trai Nityananda năm 1925.
Nitya không chỉ là em trai. Ông là người rất gần gũi với Krishnamurti, người bạn đồng hành thân thiết nhất của ông trong những năm tháng ấy. Nitya mắc bệnh lao và sức khỏe thường xuyên xấu đi. Krishnamurti từng được những người trong Hội Thông Thiên Học tin tưởng và trấn an về tương lai của em mình. Rồi khi đang trên đường trở về Ấn Độ, ông nhận được tin Nitya đã qua đời.
Cái chết ấy là một cú sốc rất lớn. Nó làm lung lay niềm tin của Krishnamurti vào những điều ông từng được dạy, vào những người từng là uy quyền tinh thần đối với ông và cả vào hệ thống mà ông đang đứng ở trung tâm. Từ đây, câu chuyện về Krishnamurti bắt đầu rẽ sang một hướng khác. (The Life of Krishnamurti)
Năm 1929, mọi thứ đi đến điểm không thể quay lại.
Ngày 3 tháng 8 năm ấy, tại Ommen, Hà Lan, trước khoảng 3.000 người, Krishnamurti tuyên bố giải tán Order of the Star. Ông từ bỏ tổ chức vốn được xây dựng quanh mình, trả lại tài sản và chấm dứt vai trò mà Hội Thông Thiên Học đã chuẩn bị cho ông trong gần hai thập niên. (Krishnamurti Foundation Trust)
Tôi nghĩ đây là một trong những khoảnh khắc lạ lùng nhất của lịch sử tôn giáo thế kỷ XX. Một người được xây dựng thành giáo chủ thường sẽ cố giữ lấy tổ chức của mình. Một người có hàng nghìn môn đồ thường sẽ muốn có thêm môn đồ. Một người được trao quyền lực tinh thần sẽ rất khó từ bỏ quyền lực ấy. Krishnamurti lại làm ngược lại: ông giải tán chính cái tổ chức có thể biến mình thành một nhân vật quyền lực.
Trong bài nói giải tán Order of the Star, ông tuyên bố:
“𝐓𝐫𝐮𝐭𝐡 𝐢𝐬 𝐚 𝐩𝐚𝐭𝐡𝐥𝐞𝐬𝐬 𝐥𝐚𝐧𝐝.”
Chân lý là mảnh đất không có lối vào.
Và ông nói tiếp rằng chân lý không thể được tiếp cận thông qua một tôn giáo, một giáo phái hay một tổ chức nào. Chính vì vậy, một tổ chức được lập ra để dẫn con người đến chân lý cuối cùng lại trở thành thứ ông cần giải tán. (Krishnamurti Foundation Trust)
Đọc câu này thoáng nhìn có thể thấy rất hay. Nhưng nghĩ kỹ thì nó lại khá khó chịu.
Bởi người ta vốn thích đường đi, thích biết tôi đang ở đâu, bước tiếp theo là gì, ai đã đi trước, cần làm gì để đến được nơi muốn đến. Thích bản đồ, thích phương pháp, thích một cái đích. Ngay cả khi nói về tự do, chúng ta cũng muốn có một phương pháp để trở nên tự do.
K lấy chính nhu cầu ấy ra hỏi lại.
NGƯỜI TA DỰNG, ÔNG PHÁ BỎ
Điều làm tôi chú ý ở Krishnamurti không hẳn là những điều ông nói về thiền, tâm trí hay chân lý. Tôi chú ý hơn đến cách ông đối xử với chính vị trí của mình.
Ông hoàn toàn có thể trở thành một giáo chủ. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn: có tổ chức, có tín đồ, có lịch sử, có một câu chuyện lớn về Bậc Thầy Thế giới và có cả một hệ thống niềm tin đặt ông vào trung tâm. Nhưng ông lại nói với những người nghe mình rằng đừng biến ông thành uy quyền, đừng phụ thuộc vào ông, đừng biến lời nói của ông thành một chiếc lồng mới.
Trong bài nói năm 1929, ông dùng chính hình ảnh chiếc lồng và sự lệ thuộc để cảnh báo những người đang đi theo mình. Ông muốn họ tự do, kể cả tự do khỏi chính Krishnamurti. (J. Krishnamurti)
Tôi rất thích hình ảnh đó. Bởi chúng ta thường phá một cái lồng để xây một cái lồng đẹp hơn. Bỏ tôn giáo này để sang tôn giáo khác, bỏ vị thầy này để tìm vị thầy khác, bỏ một giáo điều để ôm lấy một giáo điều tinh vi hơn. Thậm chí có khi bỏ luôn việc “theo thầy”, rồi lại trở thành người rất tự hào vì mình không theo thầy nào.
SAU NĂM 1929
Krishnamurti không biến mất sau khi giải tán Order of the Star. Trái lại, trong gần sáu thập niên tiếp theo, ông đi khắp thế giới, nói chuyện, đối thoại, viết sách và gặp gỡ rất nhiều người, từ những chính khách, nhà khoa học, giáo sĩ, học sinh, sinh viên cho đến những người hoàn toàn bình thường.
Ông không xây dựng một tôn giáo mới theo tên mình, nhưng các tổ chức và quỹ về sau vẫn được hình thành để bảo tồn, xuất bản và phổ biến những bài nói chuyện của ông. Điều này cũng tạo ra một nghịch lý khá thú vị: một người dành cả đời để cảnh báo về việc biến tư tưởng thành tổ chức vẫn để lại phía sau mình cả một hệ thống các tổ chức chuyên bảo tồn và phổ biến những gì ông đã nói.
Ông nói về sợ hãi, ham muốn, tình yêu, quan hệ giữa người với người, tư tưởng, ký ức, thời gian, tự do… Càng đọc K, tôi càng có cảm giác ông không thực sự muốn đưa cho người đọc một “hệ thống tư tưởng Krishnamurti”. Ông liên tục kéo người nghe trở lại với chính mình.
K không nói ông đang nghĩ gì, mà anh đang nghĩ gì, và tại sao?
K không nói tâm trí vận hành thế nào, mà là ngay lúc này tâm trí của anh đang vận hành thế nào.
K không chỉ cho người ta cách trở thành một người khác, mà kéo người hỏi quay lại nhìn rõ động cơ khiến mình muốn trở thành một người khác với chính mình.
Ông đưa cho người hỏi một cái gương.
Đây là chỗ K bắt đầu trở nên khó chịu. Bởi nếu đọc ông như đọc một triết gia, ta vẫn có thể ngồi yên, ghi chép, đánh dấu sách, trích dẫn vài câu hay và thấy rằng hôm nay mình vừa hiểu thêm một điều. Nhưng nếu thực sự nhìn vào hoạt động của chính tâm trí mình thì mọi chuyện lại khác.
Và có lẽ đó cũng là chỗ tôi bắt đầu gặp K.
CÁI BẪY CỦA NGƯỜI ĐÃ HIỂU
Ngày trước tôi thích những thứ khó. Càng nhiều khái niệm càng thấy thú vị. Một bộ kinh khó, một hệ thống triết học khó, một thuật ngữ mà ít người biết, một vị thầy nói những điều sâu xa. Có một cảm giác rất dễ chịu khi mình nghĩ rằng mình đang hiểu được một thứ mà phần đông người khác chưa hiểu.
Nhưng càng về sau tôi càng thấy chuyện đó hơi buồn cười: biết thêm không đồng nghĩa với hiểu thêm.
Tôi có thể biết rất nhiều về sợ hãi mà vẫn sợ. Có thể biết rất nhiều về vô thường mà vẫn đau khổ khi mất một thứ mình yêu. Có thể biết cái tôi là một cấu trúc mà vẫn nổi nóng khi người khác động vào nó. Có thể nói rất hay về tự do mà vẫn cần người khác công nhận rằng mình đúng.
Thậm chí có thể đọc rất nhiều về việc không nên phụ thuộc vào thầy, rồi lại phụ thuộc vào chính những lời dạy về “không phụ thuộc”.
Đến đây tôi thấy ở K có một cái gì đó. Ông không chỉ phá những câu trả lời. Ông đưa tôi quay trở lại với người đang cần câu trả lời, với chính cấu trúc đang vận hành trong tâm trí mình.
NGƯỜI ĐI TÌM ĐƯỜNG LÀ MỘT PHẦN CỦA MÊ CUNG
Đây là chỗ K khác với những gì tôi vừa viết trước đó.
Thiền cho ta một cách nhìn. Tịnh Độ cho ta một cách nương tựa. Mật tông cho ta những phương tiện để làm việc với thân, khẩu, ý qua hình tướng, âm thanh và biểu tượng. Goenka kéo ta trở về với kinh nghiệm trực tiếp: đừng chỉ biết về vô thường, hãy tự mình quan sát.
Tôi quý những thứ ấy. Nhưng K lại hỏi: Tại sao anh cần phải trở thành một người nào đó?
Tại sao cần đạt? Tại sao cần tiến bộ? Tại sao cần giác ngộ? Tại sao cần trở nên tốt hơn? Tại sao cần một phương pháp? Tại sao cần một người dẫn đường?
Bởi có khi ngay từ điểm khởi đầu, động cơ muốn thoát khỏi cái tôi, muốn trở thành một người khác, muốn đạt tới một trạng thái nào đó… đã làm thực tại chia hai.
KHÔNG PHẢI TẤM GƯƠNG ĐỂ NOI THEO
Đây có lẽ là điều tôi thích nhất và cũng là điều dễ bị hiểu sai nhất ở K.
Không nên biến ông thành một mẫu người lý tưởng. Không cần sống giống ông, không cần nói giống ông, không cần đọc hết sách của ông, cũng không cần trở thành “người hiểu Krishnamurti”. Bởi ngay khi tôi bắt đầu nghĩ “Mình phải sống theo K”, tôi đã tạo ra một cái khuôn mới, một hình mẫu mới, một vị thầy mới và một con đường mới.
Như thế, tôi lại quay về đúng chỗ ban đầu.
Có một nghịch lý khá thú vị: một người dành cả đời để cảnh báo về việc biến con người thành uy quyền, cuối cùng lại rất dễ được chính những người đọc mình biến thành uy quyền.
Có lẽ vì vậy mà tôi thích một hình ảnh khác về K. Không phải tượng, không phải giáo chủ, cũng không phải một ông già ngồi nói những câu sâu sắc. Chỉ là một người đi qua cuộc đời của họ, cùng đi vào câu chuyện với mỗi người về những khúc mắc của họ, đưa một tấm gương, rồi tiếp tục đi.
MỘT ĐÓA HOA
Tình cờ tôi có đọc một bài tản mạn rất hay về Krishnamurti của Mộc Nhiên. Đó không phải lời của K, mà là cách Mộc Nhiên nhìn về ông sau khi ông đã qua đời:
“Krishnamurti đã ra đi bình thản như cái chết của một đoá hoa, và như ông nói, ông là đoá hoa toả hương vào buổi sớm tinh mơ. Đoá hoa nở ra, toả hương, rồi tàn héo, rụng rơi, mà không cần quan tâm có ai thưởng thức được hương hoa ấy không.
Hương hoa toả ra không vì có người biết thưởng thức. Mà vì là hoa nên định phận của nó là toả hương.
…
Người ta không thể nghĩ con người Krishnamurti như một tấm gương điển hình để noi theo, vì cuộc sống là những con người cá biệt.
Chúng ta không thể sống giống y như ai khác được. Và chúng ta cũng không thể sống khác với con người mình được.
Người ta không thể nghĩ điều gì về Krishnamurti cả. Giống như người ta không thể nghĩ về làn hương thơm mát của một đoá hoa.
Có thể người ta sống cả một đời mà chẳng một lần được ngửi mùi hương hoa thơm ngát.
Và có thể tình cờ hôm nào đó thức dậy, nhìn ra khu vườn khô cằn của tâm thức bị bỏ quên hàng triệu năm qua.
Chợt nghe đâu đây, thoang thoảng mùi hương vô tình. Mùi hương không phải chỉ của riêng Krishnamurti.
Chỉ là vô tình mà Krishnamurti hé lộ cho chúng ta khập khiễng ngõ trời.
Krishnamurti không đem lại điều gì cho chúng ta, cũng không lấy đi thứ gì của chúng ta cả.
Chỉ là VÔ TÌNH mà có lần đoá hoa thơm ngát.”
🍀🍀🍀
Tôi thích hình ảnh ấy, dù tôi không biết K có muốn mình được nhìn như vậy hay không. Có một cái gì rất đẹp trong hình ảnh một người nói, rồi đi; những gì còn lại thuộc về người nghe.
Ông đã dành phần lớn cuộc đời để cảnh báo về sự sùng bái cá nhân. Vậy có lẽ cách đẹp nhất để đọc ông cũng là đừng vội biến ông thành một người đặc biệt đến mức xa khỏi con người.
Bởi cuối cùng ông cũng chỉ là một con người.
Và rồi ông ra đi.
Krishnamurti mất ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai, California, khi ông đã 90 tuổi. Những tháng cuối đời, ông được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tụy, căn bệnh tiến triển nhanh và cuối cùng cướp đi mạng sống của ông.
Tôi muốn giữ chi tiết này trong câu chuyện về K.
Bởi nếu đọc Krishnamurti quá say, người ta rất dễ dựng ông lên thành một nhân vật gần như không còn thuộc về thế giới này: một người đã nhìn thấu tất cả, sống ngoài sợ hãi, vượt qua cái tôi, đứng ở đâu đó rất xa phía trên chúng ta. Rồi từ đó, một người nói về tự do trở thành một thứ gần như thần thánh.
Nhưng Krishnamurti vẫn có một thân thể. Thân thể ấy già đi, mắc bệnh, chịu sự tàn phá của ung thư và cuối cùng cũng chết.
Ông không thắng cái chết bằng một phép màu nào cả. Ông cũng không biến mất vào một cõi nào mà chúng ta có thể kiểm chứng. Một người đã dành cả đời nói về tự do vẫn phải đi qua giới hạn cuối cùng của thân thể.
Điều đó không làm những gì ông nói nhỏ đi. Với tôi, nó khiến câu chuyện ấy thật hơn.
Một con người có tuổi thơ, có những mất mát, có những mối quan hệ, có những năm tháng bất đồng với những người từng nuôi dưỡng và bảo trợ mình. Một con người đã đi rất nhiều nơi, nói rất nhiều, được hàng triệu người lắng nghe, rồi về cuối đời mắc ung thư và chết như bao nhiêu con người khác.
Ông cũng là một con người.
CÒN TÔI
Tôi không nghĩ K là người cuối cùng trong chuỗi này. Nhưng có thể ông là người thích hợp để khép lại một cuộc tìm kiếm.
Sau khi đọc lịch sử Phật giáo, đọc Thiền, Tịnh Độ, Mật tông, rồi ngồi quan sát thân và tâm theo Goenka, tôi thấy mình đã đi qua khá nhiều cách để nhìn. Đến K, câu hỏi lại quay về với chính nhu cầu đi tìm.
Có thật tôi đang tìm chân lý, hay tôi đang tìm một cảm giác rằng mình đã hiểu chân lý? Có thật tôi muốn tự do, hay tôi muốn trở thành một người đặc biệt vì đã đạt được tự do? Có thật tôi muốn thoát khỏi sự sùng bái, hay tôi chỉ đang tìm một đối tượng mới để sùng bái?
Tôi không biết.
Và có lẽ càng lớn tuổi tôi càng thích câu này hơn.
Tôi không biết.
Không phải kiểu “tôi không biết nên tôi cần một người biết”. Cũng không phải “tôi không biết nhưng K biết”. Chỉ đơn giản là tôi không biết. Rồi nhìn.
Nhìn nỗi sợ đang xảy ra, nhìn lòng tham đang xảy ra, nhìn nhu cầu được công nhận, nhìn sự khó chịu khi ai đó nói mình sai, nhìn cả cái người đang muốn trở thành một người “đã nhìn thấy tất cả những thứ ấy”. Và ở lại với những cảm giác ấy.
Cuộc sống cứ vậy trôi.
Có lẽ ở điểm này, K không còn quan trọng nữa. Goenka cũng không còn quan trọng. Thiền, Tịnh Độ, Mật tông cũng không còn quan trọng. Không phải vì ai đó sai hay không còn phù hợp, mà bởi không ai có thể nhìn thay mình.
Và nếu những bài trước của tôi là những lần đi qua các con đường khác nhau, thì K có lẽ là lúc tôi đứng lại giữa đường. Tôi không muốn vội chọn thêm một con đường, cũng không muốn tìm thêm một người để đặt niềm tin vào đó. Chỉ muốn thử đứng yên một chút, nhìn xem cái gì đang xảy ra trong chính mình.
Có thể chân lý thực sự là một mảnh đất không có lối vào.
Cũng có thể không phải.
Tôi không biết nữa.
Nhưng lần này, tôi thấy không biết cũng không tệ lắm.
THAY LỜI KẾT
Tôi để lại ở đây một đoạn của chính Krishnamurti. Tôi thích nó ở chỗ, sau tất cả những gì vừa viết, nó lại đưa câu chuyện trở về đúng điểm mà K luôn muốn người nghe quay về: đừng quá quan tâm đến người nói, hãy nhìn vào điều đang được nói.
“Nếu hiểu được chân lý thì các vị không cần chạy theo người này, người kia.
Chân lý không đem lại hy vọng. Nó đem lại sự hiểu biết.
Chẳng có hiểu biết nào trong sự sùng bái cá nhân.
Ta vẫn khẳng định rằng mọi nghi lễ là không cần thiết cho sự phát triển tâm linh.
Nếu các vị muốn tìm kiếm chân lý, các vị phải vượt ra thật xa những giới hạn của tâm và trí con người để khám phá và để rồi lại thấy thật ra chân lý nằm bên trong chính mình.
Xem cuộc sống là đích đến là điều rất đơn giản. Không cần đến các nhà dẫn dắt trung gian.
Ta nói rằng người hiểu biết có thể đạt được sự giải thoát trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tiến hóa và lòng tôn thờ vào các thứ bậc cao thấp như các vị thường làm là không cần thiết.
Đừng xem lời ta như một uy lực.
Ta không để các vị nhốt ta vào lồng son rồi đem thờ phụng.
Khi chúng ta đem khí trời trong lành trên non cao về nhốt trong một căn phòng nhỏ, sự trong lành của khí trời sẽ biến mất, chỉ còn sự ngột ngạt.
Ta chưa bao giờ nói không có Thượng Đế. Ta đã nói chỉ có Thượng Đế như được hiện thể trong các vị. Nhưng ta sẽ không dùng chữ Thượng Đế nữa.
Ta thích gọi điều đó là cuộc sống. Dĩ nhiên, không có thiện mà cũng chẳng có ác. Thiện là điều mà chúng ta không sợ, còn ác là điều mà chúng ta sợ hãi.
Vì thế, nếu chúng ta tiêu trừ được sợ hãi thì chúng ta đã viên mãn tâm linh.
Khi chúng ta yêu cuộc sống thì chúng ta xem trọng tình yêu đó hơn mọi thứ. Xem xét mọi thứ theo tình yêu chứ không phải theo nỗi sợ.
Rồi thì sự tù túng mà chúng ta gọi là đạo đức ấy sẽ biến mất.
Hỡi các vị, đừng quan tâm xem ta là ai, các vị sẽ không bao giờ biết được.
Các vị nghĩ rằng chân lý có liên quan đến việc các vị biết ta như thế nào sao?
Các vị không quan tâm đến chân lý.
Các vị chỉ quan tâm đến vật chứa chân lý.
Hãy uống dòng nước ấy nếu nó là dòng nước sạch.
Ta nói với các vị rằng ta có dòng nước sạch ấy. Ta có bài thuốc dùng để thanh lọc. Chữa lành rất hiệu nghiệm.
Và các vị lại hỏi ta - Ngài là ai?
Ta là mọi thứ, bởi vì ta là CUỘC SỐNG.”
Hết.
=====
Tài liệu tham khảo
* Krishnamurti Foundation Trust — tư liệu về cuộc đời và các bài nói của J. Krishnamurti.
* Krishnamurti Foundation of America — Krishnamurti’s Biography.
* Krishnamurti Foundation Trust — Dissolution Speech, Ommen, 3/8/1929.
* J. Krishnamurti, The First and Last Freedom.
* J. Krishnamurti, Freedom from the Known.
* Pupul Jayakar, Krishnamurti: A Biography.
* Mary Lutyens, Krishnamurti: The Years of Awakening.
* Mộc Nhiên — Cuộc đời Krishnamurti / các bài tản mạn về Krishnamurti.
* Sổ tay Krishnamurti, NXB Hồng Đức — bản tiếng Việt được sử dụng để dẫn lại đoạn lời K ở phần cuối.
Ảnh: J. Krishnamurti tại Ommen, Hà Lan, ngày 3/8/1929 - thời điểm ông tuyên bố giải tán Order of the Star in the East, tổ chức được thành lập để chuẩn bị cho vai trò “Bậc Thầy Thế giới”.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bàn về phạm trù Thiện - ác - Hoàng Văn Thuận

Francis Bacon (1561 - 1626) - một trong những người sáng lập triết học Cận đại

Thuật dùng người của Hàn Phi Tử