KHI NIỀM TIN BỊ BÀO MÒN, MỘT DÂN TỘC MẤT ĐI ĐIỀU GÌ?
KHI NIỀM TIN BỊ BÀO MÒN, MỘT DÂN TỘC MẤT ĐI ĐIỀU GÌ?
Một đất nước có thể được nhận diện bằng núi sông, những công trình, di sản, món ăn hay những trang sử hào hùng. Nhưng điều khiến một cộng đồng thực sự gắn kết nằm sâu hơn những gì có thể nhìn thấy: cách con người đối xử với nhau, giữ lời, tôn trọng quy tắc chung và ứng xử khi lợi ích riêng xung đột với lợi ích của người khác.
Ta có thể tự hào về quê hương, xúc động trước lịch sử dân tộc và mong muốn đất nước được thế giới kính trọng. Nhưng lòng tự hào sẽ trở nên mong manh nếu trong đời sống thường ngày, con người luôn phải dè chừng nhau; nếu người làm đúng thường chịu thiệt, còn kẻ lách luật lại được lợi; nếu sự tử tế bị xem là ngây thơ, còn gian khôn được ca tụng như một năng lực sinh tồn.
Một xã hội có thể đạt nhiều thành tựu về kinh tế, khoa học và công nghệ, nhưng vẫn phải đối diện với một câu hỏi căn bản: người sống trong xã hội đó có thể tin nhau đến mức nào?
Bởi niềm tin quyết định rất nhiều điều trong đời sống chung. Nó ảnh hưởng đến cách con người hợp tác, cách doanh nghiệp làm ăn, cách người dân tuân thủ pháp luật và cách một cộng đồng vượt qua khủng hoảng. Khi niềm tin bị bào mòn, thiệt hại không dừng lại ở những mối quan hệ đổ vỡ. Cả xã hội phải trả giá.
1. Khi sự thật trở thành thứ có thể mặc cả
Hãy bắt đầu từ những chuyện rất nhỏ.
Một người khai sai để đạt thành tích. Một học sinh gian lận vì sợ điểm kém. Một cơ quan làm đẹp báo cáo để hoàn thành chỉ tiêu. Một doanh nghiệp che giấu chất lượng sản phẩm để bảo vệ lợi nhuận. Một người biết mình sai nhưng vẫn tìm cách đổ lỗi, miễn sao bản thân không phải trả giá.
Những hành vi đó khác nhau về mức độ và hậu quả. Tuy nhiên, chúng có một điểm chung: sự thật bị đặt sau lợi ích trước mắt.
Khi điều này lặp lại đủ nhiều, vấn đề không còn nằm ở từng lời nói dối riêng lẻ. Nó bắt đầu thay đổi cách con người nhìn thế giới. Người trung thực lo mình bị thiệt. Người muốn làm đúng phải tính xem những người khác có làm đúng hay không. Người tiêu dùng không biết nên tin quảng cáo nào, phụ huynh hoài nghi kết quả học tập, nhà tuyển dụng nghi ngờ giá trị thực của bằng cấp, còn người dân khó phân biệt đâu là thông tin đáng tin cậy.
Niềm tin là một loại tài sản vô hình. Nó giúp con người hợp tác mà không phải kiểm tra mọi thứ từ đầu; giúp một lời hứa có giá trị, một hợp đồng bớt tốn kém để giám sát và một quy tắc chung có thể vận hành mà không cần lúc nào cũng có người đứng bên cạnh để cưỡng chế.
Khi niềm tin suy giảm, xã hội phải trả giá bằng thời gian, tiền bạc, thủ tục và sự bất an. Người ta dựng thêm hàng rào, đòi thêm giấy tờ, kiểm tra nhau nhiều hơn, nhưng vẫn chưa chắc cảm thấy an toàn hơn.
Bởi vậy, gian dối có thể đem lại lợi ích cho một cá nhân trong chốc lát. Nhưng khi trở thành thói quen được dung dưỡng, nó làm suy yếu chính môi trường mà tất cả mọi người đang dựa vào để sống và làm ăn.
Một cuộc điều tra do Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục thực hiện năm 2008, được GS. Trần Ngọc Thêm dẫn lại trong các cuộc trao đổi về văn hóa học đường, đưa ra các tỷ lệ học sinh nói dối cha mẹ tăng theo cấp học: 22% ở tiểu học, 50% ở trung học cơ sở, 64% ở trung học phổ thông và 80% ở sinh viên đại học. Chính giáo sư cũng bày tỏ sự dè dặt đối với những con số do các cuộc điều tra xã hội học trong nước cung cấp, dù ông cho rằng kết quả này phù hợp với những nhận định của mình về môi trường văn hóa.
Đây là số liệu cũ, gắn với một cuộc điều tra cụ thể. Nó không thể đại diện cho mọi học sinh, mọi dạng nói dối hay thực trạng hiện nay. Tuy nhiên, câu chuyện gợi ra một vấn đề đáng suy nghĩ: chúng ta đang dạy người trẻ coi trọng sự thật, hay vô tình khiến các em tin rằng điều quan trọng nhất là đạt được kết quả mong muốn?
Nếu thành tích được khen thưởng mà cách đạt thành tích ít bị xem xét, bài học trẻ nhận được sẽ rất khác với bài học người lớn muốn truyền đạt. Nếu người làm đúng liên tục chịu thiệt, còn người biết luồn lách vẫn tiến lên, lời khuyên về trung thực khó có sức nặng bằng những gì các em chứng kiến mỗi ngày.
Giáo dục nhân cách vì thế phải bắt đầu từ những việc cụ thể: người lớn làm gương, nhà trường đánh giá công bằng, sai phạm được xử lý minh bạch và người trung thực được bảo vệ. Trẻ em khó học cách tôn trọng sự thật nếu chính môi trường xung quanh liên tục cho thấy sự thật có thể bị điều chỉnh để phục vụ thành tích.
2. Khi lợi ích riêng lấn át giới hạn đạo đức
Gian dối trở nên đặc biệt nguy hiểm khi nó đi cùng sự thờ ơ trước thiệt hại mà người khác phải gánh chịu.
Một người bán hàng có thể biết sản phẩm không an toàn nhưng vẫn bán. Một cơ sở sản xuất có thể biết quy trình của mình gây nguy hại nhưng vẫn tiếp tục vì chi phí khắc phục quá lớn. Một người tham gia giao thông có thể lấn lên vỉa hè, cắt ngang hàng người đang chờ hoặc vượt đèn đỏ vì cho rằng vài phút của mình quan trọng hơn quyền đi lại và sự an toàn của người khác.
Trong từng trường hợp, người vi phạm có thể tự tìm cho mình một lời biện hộ: ai cũng làm thế, thiệt hại chẳng đáng bao nhiêu, nếu mình không làm thì người khác cũng làm, hoặc cuộc sống vốn đã khó khăn nên phải biết khôn ngoan.
Nhưng khi tất cả cùng lấy lý do đó để biện minh, cái giá phải trả sẽ được chuyển sang cộng đồng.
An toàn thực phẩm là một ví dụ. Tháng 3/2016, báo Tuổi Trẻ đăng bài về nguy cơ salbutamol bị sử dụng sai mục đích trong chăn nuôi heo. Từ lượng chất được cho là đã bán ra ngoài mục đích y tế, bài báo nêu ước tính lượng thức ăn có thể đủ để sử dụng cho hơn sáu triệu con heo. Tuy nhiên, con số này không có nghĩa hơn sáu triệu con heo đã được xét nghiệm và xác nhận có chứa chất cấm.
Quan trọng hơn, Bộ Y tế khi đó đã phản hồi rằng một số thông tin được công bố là chưa chính xác, trong đó có nhận định chỉ 10 kg salbutamol được sử dụng đúng quy định. Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa lượng nguyên liệu được nhập khẩu, lượng được bán ra ngoài mục đích y tế và lượng thực tế đã được sử dụng trong chăn nuôi. Không thể coi phép ước tính về sáu triệu con heo là số lượng động vật đã được xác nhận nhiễm chất cấm.
Sự dè dặt về con số không làm mất đi vấn đề cốt lõi: salbutamol bị cấm sử dụng trong chăn nuôi, và việc nguyên liệu dùng làm thuốc cho người bị chuyển sang mục đích trái phép có thể tạo ra nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng. Vụ việc cho thấy tầm quan trọng của quản lý nhập khẩu, giám sát chuỗi cung ứng, kiểm tra thực phẩm và trách nhiệm của những đơn vị có liên quan.
Cũng cần thận trọng khi quy toàn bộ gánh nặng ung thư cho thực phẩm không an toàn. Ung thư có nhiều yếu tố nguy cơ, bao gồm thuốc lá, rượu, một số bệnh nhiễm trùng, môi trường và lối sống. Số ca mắc và tử vong được công bố qua các năm cũng thay đổi theo thời kỳ và phương pháp thống kê. Lấy một con số cũ rồi khẳng định thực phẩm nhiễm bẩn là nguyên nhân chính sẽ khiến một cảnh báo chính đáng trở thành kết luận thiếu căn cứ.
Sự cẩn trọng giúp chúng ta tập trung vào điều có thể chứng minh và xử lý: hành vi vi phạm, cơ chế kiểm tra, trách nhiệm của người sản xuất, năng lực giám sát và quyền được biết của người tiêu dùng.
Điều đáng lo là một người có thể không trực tiếp gây ra thiệt hại lớn bằng một hành động đơn lẻ, nhưng vẫn góp phần tạo nên môi trường nguy hiểm qua hàng loạt lựa chọn nhỏ: bán thứ mình không muốn gia đình sử dụng, xả thứ mình không muốn hàng xóm phải chịu, lách quy định mình mong người khác tuân thủ.
Lòng tốt trong xã hội vì thế còn thể hiện ở giới hạn mà ta tự đặt ra cho lợi ích của mình. Có những thứ kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng không đáng để làm. Có những điều có thể lách qua mà không bị phát hiện, nhưng vẫn không nên làm.
Đạo đức bắt đầu từ khả năng tự hỏi: lợi ích mình nhận được có đang được trả bằng sức khỏe, thời gian, sự an toàn hoặc phẩm giá của người khác hay không?
3. Khi lời nói biến con người thành kẻ thù của nhau
Sự suy giảm lòng trắc ẩn không chỉ biểu hiện trong những hành động gây thiệt hại vật chất. Nó còn hiện diện trong ngôn ngữ thường ngày.
Trên mạng xã hội, một sai sót có thể nhanh chóng trở thành cái cớ để chế giễu; một ý kiến khác biệt có thể kéo theo hàng loạt lời xúc phạm; một thông tin chưa được kiểm chứng có thể bị chia sẻ rộng rãi như thể đã là sự thật. Người ta dễ dàng phán xét cả nhân cách một con người từ một đoạn video ngắn, một câu nói bị tách khỏi ngữ cảnh hay một câu chuyện chỉ được kể từ một phía.
Điều đáng ngại không phải là xã hội có tranh luận, chỉ trích hay bất đồng. Một cộng đồng lành mạnh cần những điều đó. Điều đáng ngại là khi sự phẫn nộ được xem như bằng chứng của chính nghĩa, khi làm nhục người khác được coi là cách thể hiện lập trường, còn việc thừa nhận mình chưa hiểu hết câu chuyện bị xem là yếu đuối.
Ngôn ngữ có thể giúp chúng ta gọi tên cái sai, yêu cầu người có trách nhiệm giải trình và bảo vệ những người bị tổn hại. Nhưng ngôn ngữ cũng có thể biến một cuộc tranh luận thành cuộc săn đuổi, nơi mục tiêu không còn là tìm hiểu sự thật mà làm cho đối phương mất mặt.
Khi đã quen nhìn người khác qua những nhãn dán, ta không còn cần lắng nghe họ. Khi một người bị coi là ngu dốt, xấu xa hay đáng khinh ngay từ đầu, mọi điều họ nói đều dễ bị diễn giải theo hướng bất lợi. Sự thật trở thành thứ yếu, còn thắng thua trong cuộc tranh cãi mới là điều quan trọng.
Một xã hội như vậy sẽ khó giải quyết bất đồng. Người ta học cách phòng thủ, phản công và tìm đồng minh; ít người đủ bình tĩnh để hỏi liệu phía bên kia có điểm nào đúng hay không. Những vấn đề vốn có thể được giải quyết bằng trao đổi và trách nhiệm lại bị đẩy thành xung đột về danh dự, phe nhóm và bản sắc.
Trước khi viết một lời cay nghiệt, ta có thể dừng lại để hỏi: lời nói này giúp làm sáng tỏ vấn đề, bảo vệ người bị hại hay ngăn chặn một hành vi sai trái? Hay nó chỉ đem lại vài giây hả hê vì đã làm tổn thương người khác?
Không phải mọi lời nói nặng đều sai, cũng không phải lúc nào sự hòa nhã cũng là đức tính cần thiết. Có những hành vi cần bị lên án rõ ràng. Nhưng phê phán hành vi và tước bỏ phẩm giá của con người là hai việc khác nhau. Ta có thể kiên quyết với cái sai mà không biến sự tàn nhẫn thành niềm vui.
Một cộng đồng có văn hóa tranh luận là cộng đồng vẫn có thể bất đồng sâu sắc mà không cần phủ nhận nhân tính của người đối diện. Điều đó đòi hỏi khả năng phân biệt giữa sự thật và suy đoán, giữa phê bình và sỉ nhục, giữa yêu cầu chịu trách nhiệm và mong muốn trả đũa.
4. Vì sao chúng ta cứ phải sống trong tâm thế đối đầu?
Có một nghịch lý trong đời sống: con người mong được an toàn, tôn trọng và hợp tác, nhưng đôi khi lại hành xử theo cách khiến chính những điều đó trở nên khó đạt được.
Ta muốn người khác tuân thủ luật giao thông nhưng lại tìm cách vượt lên khi thấy có lợi. Ta mong hàng xóm không làm phiền mình nhưng sẵn sàng gây phiền toái cho họ để tiết kiệm vài phút. Ta muốn công việc được đánh giá công bằng nhưng lại có thể hạ thấp thành quả của người khác khi thành công đó khiến mình cảm thấy thua kém.
Trong những tình huống như vậy, người khác dần bị nhìn như chướng ngại vật, đối thủ hoặc mối đe dọa đối với lợi ích của mình. Cái nhìn đó biến đời sống chung thành cuộc tranh giành không ngừng, ngay cả khi những người tham gia chẳng thực sự có lý do để đối đầu.
Ngôn ngữ về thi đua, cạnh tranh, đấu tranh hay phòng chống tự nó không tạo ra tâm lý đối đầu. Nhiều cuộc đấu tranh là cần thiết để chống bất công, bảo vệ quyền lợi và sửa chữa những cơ chế sai lệch. Cạnh tranh cũng có thể khuyến khích sáng tạo và nâng cao chất lượng. Vấn đề nằm ở cách ta hiểu những hoạt động đó và biến chúng thành điều gì trong đời sống.
Nếu thi đua chỉ còn là cuộc chạy đua thành tích, người ta sẽ tìm cách vượt qua nhau bằng mọi giá. Nếu phản biện bị hiểu thành công kích, bất đồng sẽ trở thành thù địch. Nếu mọi sai phạm đều được giải thích bằng sự xấu xa của một cá nhân mà không xem xét cơ chế tạo ra nó, xã hội có thể liên tục tìm người để trách móc nhưng vẫn giữ nguyên những điều khiến sai phạm tái diễn.
Không phải mọi khó khăn đều biến mất chỉ vì mỗi người cố gắng sống tốt hơn. Tham nhũng cần cơ chế kiểm soát và chế tài; gian lận cần quy trình phát hiện; vi phạm an toàn thực phẩm cần giám sát và truy cứu trách nhiệm; xung đột lợi ích cần quy tắc minh bạch. Thiện chí cá nhân rất quan trọng, nhưng không thể thay thế những thiết chế công bằng.
Ngược lại, một hệ thống tốt cũng khó vận hành nếu con người không có ý thức tôn trọng quy tắc và trách nhiệm với cộng đồng.
Điều chúng ta cần là một cách nhìn vượt khỏi tâm thế đối đầu thường trực: nhận diện vấn đề để giải quyết, cạnh tranh trong giới hạn công bằng, phản biện để làm rõ sự thật và hợp tác ở những nơi lợi ích chung đòi hỏi sự chung tay.
Một xã hội trưởng thành không cần mọi người đồng ý với nhau về tất cả mọi việc. Điều cần thiết là có những quy tắc đủ công bằng để bất đồng không biến thành thù địch, và có những cơ chế đủ đáng tin để người dân không phải dựa vào quan hệ cá nhân mỗi khi cần bảo vệ quyền lợi chính đáng.
5. Văn hóa được tạo ra từ những điều xã hội chấp nhận
Gọi gian dối, vô cảm và tâm lý đối đầu là những vấn đề văn hóa chỉ có ý nghĩa khi ta hiểu văn hóa không phải một thứ bất biến nằm sẵn trong bản tính của một dân tộc.
Văn hóa được hình thành và truyền lại qua thói quen, cách giáo dục, chuẩn mực cộng đồng, những điều được khen thưởng và cả những hành vi được bỏ qua. Nó có thể thay đổi khi điều kiện sống, cách tổ chức xã hội và những kỳ vọng chung thay đổi.
Bởi vậy, sẽ không công bằng nếu từ một số hiện tượng có thật mà kết luận rằng người Việt vốn giả dối, ác độc hay thích tranh đấu. Trong bất cứ xã hội nào cũng có người trung thực và kẻ gian dối, người biết quan tâm và người chỉ nghĩ đến mình. Điều cần tìm hiểu là vì sao một số hành vi có hại vẫn lặp lại, vì sao người muốn làm đúng đôi khi cảm thấy đơn độc, và vì sao những nguyên tắc tốt đẹp không phải lúc nào cũng được thực hiện trong thực tế.
Nếu một học sinh trung thực được bảo vệ, sự trung thực có thêm cơ hội phát triển. Nếu người tố giác sai phạm được bảo vệ thay vì bị trù dập, minh bạch sẽ bớt nguy hiểm. Nếu doanh nghiệp tuân thủ quy định có thể cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp vi phạm, đạo đức kinh doanh sẽ có nền tảng thực tế hơn. Nếu người gây hại phải chịu trách nhiệm bất kể vị trí hay quan hệ, xã hội sẽ có thêm lý do để tin vào công bằng.
Ngược lại, khi người ta nhìn thấy sự sai trái đem lại lợi ích và hiếm khi phải trả giá, những lời kêu gọi đạo đức sẽ dễ bị xem như khẩu hiệu.
Vì thế, thay đổi văn hóa cần bắt đầu từ cá nhân nhưng không thể dừng ở cá nhân. Ta cần dạy trẻ nói thật, đồng thời tạo ra môi trường để các em có thể thừa nhận lỗi lầm mà không bị làm nhục. Ta cần khuyến khích lòng tốt, đồng thời bảo đảm người tử tế không liên tục phải gánh phần thiệt vì sự vô trách nhiệm của người khác. Ta cần lên án hành vi sai trái, đồng thời xây dựng quy trình minh bạch để sự lên án dựa trên bằng chứng thay vì đám đông và cảm xúc nhất thời.
Những thay đổi này cần thời gian. Một lời kêu gọi có thể tạo cảm hứng, nhưng chỉ những trải nghiệm lặp đi lặp lại về sự công bằng, trách nhiệm và tôn trọng mới dần hình thành niềm tin bền vững.
6. Sức mạnh dân tộc bắt đầu từ cách ta đối xử với nhau
Lòng yêu nước có thể được khơi dậy trong những thời khắc lớn lao, khi chủ quyền bị đe dọa, khi đất nước gặp thiên tai hoặc khi một thành tựu chung khiến mọi người tự hào. Nhưng sức mạnh cộng đồng cũng được tích lũy trong những ngày bình thường: khi người đi đường tôn trọng luật lệ, người bán hàng không đánh đổi sức khỏe khách hàng lấy lợi nhuận, người làm công vụ không lạm dụng quyền hạn, người có năng lực không chèn ép người yếu thế và người có bất đồng vẫn thừa nhận phẩm giá của nhau.
Một đất nước đáng sống cần nhiều hơn những lời khẳng định về bản sắc. Nó cần những điều kiện để người dân có thể tin rằng sự trung thực có ý nghĩa, lòng tốt không đồng nghĩa với yếu thế, còn tuân thủ quy tắc không khiến mình trở thành người chịu thiệt duy nhất.
Ta không thể yêu cầu mọi người tin nhau bằng lời kêu gọi trong khi những hành vi làm mất lòng tin vẫn không được xử lý. Cũng không thể chỉ trông chờ vào pháp luật nếu mỗi người đều tự dành cho mình một ngoại lệ. Niềm tin được xây dựng khi lời nói đi cùng hành động, nguyên tắc được áp dụng công bằng và trách nhiệm không biến mất theo vị thế của người vi phạm.
Nếu muốn xã hội bớt giả dối, hãy làm cho sự thật có giá trị. Nếu muốn con người bớt vô cảm, hãy tạo điều kiện để trách nhiệm và lòng trắc ẩn được thực hành. Nếu muốn giảm đối đầu, hãy xây dựng những không gian nơi bất đồng có thể được giải quyết bằng lý lẽ, bằng chứng và quy tắc công bằng.
Chân thành, thiện lương và nhẫn nại vẫn là những giá trị đáng gìn giữ. Nhưng nhẫn nại không có nghĩa là cam chịu bất công; thiện lương không có nghĩa là dung túng cái sai; chân thành không có nghĩa là tin tưởng mù quáng. Những giá trị đó chỉ có sức sống khi đi cùng sự tỉnh táo, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm.
Cuối cùng, sức mạnh của một dân tộc không chỉ được đo bằng khả năng đứng lên trước những thách thức từ bên ngoài. Nó còn được đo bằng khả năng nhận diện và sửa chữa những điều đang làm tổn thương chính cộng đồng của mình.
Mỗi người không thể một mình thay đổi cả xã hội. Nhưng mỗi người có thể từ chối biến cái sai thành chuyện bình thường, từ chối kiếm lợi bằng cách đẩy rủi ro cho người khác, từ chối dùng sự sỉ nhục để thay thế lập luận và từ chối xem lòng tin là món quà chỉ dành cho những người ngây thơ.
Một cộng đồng mạnh không phải là cộng đồng không có sai lầm hay bất đồng. Đó là cộng đồng có đủ trung thực để nhìn nhận sai lầm, đủ công bằng để xử lý chúng và đủ nhân văn để con người vẫn có thể sống cùng nhau sau những khác biệt.
Niềm tin không tự nhiên mà có. Nó được tạo nên từ những việc rất nhỏ, lặp đi lặp lại mỗi ngày. Và cũng từ những việc nhỏ đó, niềm tin có thể được khôi phục – hoặc tiếp tục bị bào mòn.
Khi niềm tin mất đi, một dân tộc không lập tức mất lịch sử, lãnh thổ hay những thành tựu đã đạt được. Nhưng dân tộc ấy có thể mất dần khả năng hợp tác, cảm giác công bằng và niềm tin rằng sống tử tế là điều đáng làm. Khôi phục niềm tin vì thế không bắt đầu từ những lời tự hào lớn lao, mà từ việc làm cho sự thật, trách nhiệm và lòng nhân ái có chỗ đứng thực sự trong đời sống mỗi ngày.
Ảnh: Dòng người và phương tiện đan xen trên đường phố Việt Nam gợi lên không gian sống chung, nơi mỗi lựa chọn cá nhân đều có thể ảnh hưởng đến sự an toàn, trật tự và lợi ích của những người xung quanh.
Tư liệu tham khảo
1. Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương – GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: Mổ xẻ nguyên nhân 80% sinh viên Việt Nam nói dối. Bài phỏng vấn dẫn lại kết quả điều tra năm 2008 về tỷ lệ học sinh, sinh viên nói dối cha mẹ theo cấp học. Bài viết cũng ghi nhận sự dè dặt của GS. Trần Ngọc Thêm đối với độ tin cậy của các số liệu điều tra xã hội học. Đây là nguồn cho phần thảo luận về giáo dục, thành tích và việc hình thành thói quen trung thực; số liệu cần được hiểu trong bối cảnh và giới hạn của cuộc điều tra.
Đọc tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương: https://spnttw.edu.vn/gs-tskh-tran-ngoc-them-mo-xe-nguyen-nhan-80-sinh-vien-viet-nam-noi-doi-2/
2. Tuổi Trẻ – Trên 6 triệu con heo xơi chất cấm vô bụng người Việt. Bài báo ngày 22/3/2016 phản ánh việc salbutamol, nguyên liệu được nhập khẩu để sản xuất thuốc cho người, có nguy cơ bị chuyển sang sử dụng trong chăn nuôi. Con số hơn sáu triệu con heo là phép ước tính dựa trên lượng nguyên liệu được cho là đã bán ra ngoài mục đích y tế, không phải kết quả kiểm nghiệm xác nhận từng con vật. Bài viết cần được đọc cùng thông tin phản hồi của Bộ Y tế về độ chính xác của một số số liệu được công bố thời điểm đó.
Đọc tại Tuổi Trẻ Online: https://tuoitre.vn/tren-6-trieu-con-heo-xoi-chat-cam-vo-bung-nguoi-viet-1071418.htm
3. Phụ Nữ Today – Bộ Y tế phản hồi vụ “6 triệu con heo xơi chất cấm Salbutamol”. Bài báo ngày 25/3/2016 thuật lại phản hồi của Bộ Y tế, trong đó cơ quan này cho rằng một số thông tin được công bố trước đó chưa chính xác, bao gồm nhận định chỉ 10 kg salbutamol được sử dụng đúng quy định. Nguồn này bổ sung góc nhìn cần thiết để tránh xem phép ước tính về số heo có thể được sử dụng thức ăn chứa chất cấm như một kết quả đã được xác minh đầy đủ.
Đọc tại Phụ Nữ Today: https://phunutoday.vn/bo-y-te-phan-hoi-vu-6-trieu-con-heo-xoi-chat-cam-salbutamol-d101937.html
4. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – Ung thư tại Việt Nam (Cancer in Viet Nam). Trang thông tin tổng quan về gánh nặng ung thư và các yếu tố nguy cơ có thể phòng ngừa, trong đó có thuốc lá, rượu, cân nặng, hoạt động thể chất và những yếu tố liên quan đến nhiễm trùng. Nguồn giúp đặt vấn đề an toàn thực phẩm trong bối cảnh rộng hơn, tránh quy toàn bộ số ca ung thư cho một nguyên nhân đơn lẻ.
Đọc tại Tổ chức Y tế Thế giới: https://www.who.int/vietnam/health-topics/cancer
5. VnExpress International – Bộ trưởng Y tế Việt Nam bác bỏ kết luận cho rằng thực phẩm không an toàn là nguyên nhân trực tiếp gây ung thư (Vietnam's health minister brushes off parliamentary study linking cancer to unsafe food). Bài báo ngày 20/4/2017 phản ánh tranh luận về một báo cáo liên quan đến an toàn thực phẩm và ung thư, trong đó Bộ trưởng Y tế cho rằng kết luận quy thực phẩm không an toàn thành nguyên nhân chính và trực tiếp có thể gây hiểu lầm. Nguồn minh họa cho yêu cầu phân biệt giữa cảnh báo về nguy cơ sức khỏe và kết luận nhân quả cần có bằng chứng khoa học.
Đọc tại VnExpress International: https://e.vnexpress.net/news/news/vietnam-s-health-minister-brushes-off-parliamentary-study-linking-cancer-to-unsafe-food-3573659.html

Nhận xét
Đăng nhận xét