CHIẾN TRANH VIỆT NAM CÓ PHẢI LÀ MỘT NƯỚC CỜ NHẰM LÀM LIÊN XÔ SỤP ĐỔ?

 CHIẾN TRANH VIỆT NAM CÓ PHẢI LÀ MỘT NƯỚC CỜ NHẰM LÀM LIÊN XÔ SỤP ĐỔ?

Ngày 30/4/1975, Mỹ thất bại trong nỗ lực duy trì một miền Nam Việt Nam không cộng sản. Mười sáu năm sau, Liên Xô tan rã, khép lại cuộc đối đầu kéo dài gần nửa thế kỷ giữa hai siêu cường. Nhìn từ kết cục đó, có người đặt câu hỏi: liệu chiến tranh Việt Nam có phải một nước cờ dài hạn của Washington nhằm làm Liên Xô suy yếu rồi sụp đổ? Muốn trả lời, cần phân biệt mục tiêu Mỹ theo đuổi khi tham chiến với những hệ quả chỉ xuất hiện nhiều năm sau.

1. Mỹ muốn gì khi can thiệp vào Việt Nam?

Trong Chiến tranh Lạnh, Washington xem Việt Nam là một phần của cuộc cạnh tranh toàn cầu với phe xã hội chủ nghĩa. Giới hoạch định chính sách Mỹ lo ngại rằng nếu miền Nam Việt Nam nằm dưới sự kiểm soát của lực lượng cộng sản, các quốc gia khác ở Đông Nam Á có thể đi theo con đường tương tự. Thuyết domino trở thành một trong những cơ sở quan trọng để giải thích và biện minh cho chính sách của Mỹ trong khu vực.

Washington còn muốn bảo vệ uy tín quốc tế, duy trì niềm tin của đồng minh vào các cam kết an ninh và giữ vị thế tại châu Á. Vì thế, kết quả cuộc chiến dần mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi Việt Nam: nó còn được xem là phép thử đối với chính sách kiềm chế chủ nghĩa cộng sản và độ tin cậy của Mỹ trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, từ mục tiêu ngăn chặn sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản đến giả thuyết Mỹ phát động chiến tranh Việt Nam nhằm làm Liên Xô sụp đổ là một khoảng cách lớn. Nhận định thứ nhất phù hợp với chiến lược kiềm chế của Washington trong Chiến tranh Lạnh; nhận định thứ hai đòi hỏi bằng chứng cụ thể từ các tài liệu hoạch định chính sách và những quyết định có liên quan. Việc Liên Xô tan rã năm 1991, tự nó, không thể chứng minh rằng Mỹ đã dự tính kết cục đó từ đầu.

2. Việt Nam trong thế cạnh tranh Mỹ – Trung – Xô

Chiến tranh Việt Nam diễn ra trong một cục diện quốc tế phức tạp. Liên Xô và Trung Quốc đều viện trợ cho miền Bắc Việt Nam, nhưng quan hệ giữa hai nước ngày càng xấu đi do bất đồng về đường lối, an ninh và vai trò lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế.

Theo nhà sử học Sergey Radchenko trong chương nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam và sự chia rẽ Trung – Xô, cạnh tranh giữa Moskva và Bắc Kinh đã ảnh hưởng đến cách hai cường quốc hỗ trợ Hà Nội và tìm kiếm ảnh hưởng tại Việt Nam. Từ cuối thập niên 1960, Hà Nội ngày càng nghiêng về phía Liên Xô, trong bối cảnh Trung Quốc trải qua những biến động nghiêm trọng của Cách mạng Văn hóa.

Washington tìm cách tận dụng mâu thuẫn đó để cải thiện vị thế quốc tế. Dưới thời Tổng thống Richard Nixon, Mỹ từng bước mở cửa quan hệ với Trung Quốc, đồng thời tìm cách quản lý cạnh tranh với Liên Xô. Chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon năm 1972 là dấu mốc quan trọng, giúp Washington có thêm đòn bẩy ngoại giao trong quan hệ với cả Bắc Kinh lẫn Moskva.

Đây là một tính toán chiến lược có thật, nhưng không đồng nghĩa với việc toàn bộ chiến tranh Việt Nam được thiết kế nhằm phá hủy Liên Xô. Bất đồng Trung – Xô đã hình thành từ trước, xuất phát từ lợi ích riêng của mỗi nước. Việt Nam cũng có mục tiêu độc lập, chủ động tranh thủ viện trợ và điều chỉnh quan hệ với các đồng minh theo tính toán của mình, chứ không đơn thuần là quân cờ do các cường quốc điều khiển.

3. Vì sao Liên Xô tan rã?

Tháng 12/1991, Liên bang Xô viết chính thức chấm dứt tồn tại. Trước đó, làn sóng biến động ở Đông Âu năm 1989 đã làm sụp đổ hàng loạt chính quyền xã hội chủ nghĩa trong khu vực. Đặt những sự kiện này cạnh chiến tranh Việt Nam, người ta dễ hình dung một chuỗi diễn biến kéo dài, trong đó Mỹ từng bước làm suy yếu phe cộng sản trước khi chứng kiến đối thủ lớn nhất của mình tan rã. Nhưng các sự kiện nối tiếp nhau về thời gian chưa đủ để chứng minh chúng là những mắt xích của cùng một kế hoạch.

Liên Xô đã phải đối mặt với những khó khăn kinh tế kéo dài, bộ máy chính trị cứng nhắc và mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa chính quyền trung ương với các nước cộng hòa. Khi Mikhail Gorbachev lên nắm quyền năm 1985, ông triển khai cải tổ kinh tế (perestroika) và công khai hóa (glasnost) nhằm khắc phục những hạn chế của hệ thống. Tuy nhiên, cải cách đã mở ra những biến động chính trị vượt khỏi khả năng kiểm soát của giới lãnh đạo. Các phong trào đòi dân chủ, quyền tự quyết và độc lập ngày càng mạnh lên; cuộc đảo chính bất thành tháng 8/1991 tiếp tục làm suy yếu trung ương và đẩy nhanh quá trình tan rã.

Trong nghiên cứu đăng trên Journal of Cold War Studies năm 2022, nhà sử học Mark Kramer phân tích nghịch lý của quá trình này: những cải cách được khởi xướng để củng cố hệ thống cuối cùng lại góp phần dẫn đến sự sụp đổ của nó. Đây là lời nhắc rằng kết cục lịch sử đôi khi hình thành từ sự tương tác giữa những khủng hoảng tích tụ và các quyết định chính trị có hậu quả khác với dự tính ban đầu.

Cạnh tranh với Mỹ và gánh nặng duy trì vị thế siêu cường cũng là những yếu tố cần xem xét. Tuy nhiên, muốn khẳng định chiến tranh Việt Nam góp phần quyết định vào sự sụp đổ của Liên Xô, cần chỉ ra cơ chế tác động cụ thể và bằng chứng cho thấy tác động đó quan trọng đến mức nào. Khoảng cách mười sáu năm giữa hai sự kiện không loại trừ mọi mối liên hệ, nhưng càng không cho phép chúng ta chỉ dựa vào kết cục để suy ra nguyên nhân.

4. Thất bại ở Việt Nam có thể là một phần của kế hoạch thành công?

Một cách lý giải nghe qua khá hấp dẫn là: Mỹ thất bại tại Việt Nam năm 1975, nhưng Liên Xô cuối cùng vẫn sụp đổ năm 1991. Phải chăng thất bại trước mắt chỉ là một phần trong kế hoạch dài hạn của Washington?

Vấn đề nằm ở chỗ cách giải thích này dùng kết quả về sau để suy ngược ý đồ ban đầu. Mỹ đã không đạt được mục tiêu duy trì một miền Nam Việt Nam không cộng sản; cuộc chiến gây tổn thất sinh mạng lớn, làm xã hội Mỹ chia rẽ sâu sắc và tạo ra những tranh cãi kéo dài về giới hạn của sức mạnh quân sự. Những hệ quả đó khó có thể được xem đơn giản là các bước đi thuận lợi trong một kế hoạch đã được định sẵn.

Dĩ nhiên, thất bại tại Việt Nam không khiến Mỹ mất khả năng cạnh tranh trên toàn cầu. Washington vẫn có thể điều chỉnh chính sách, xây dựng quan hệ với Trung Quốc và tận dụng những thay đổi trong tương quan quốc tế. Nhưng khả năng tận dụng một diễn biến không có nghĩa là đã chủ động tạo ra diễn biến đó từ đầu. Một chính phủ có thể biến thất bại thành lợi thế, khai thác mâu thuẫn của đối thủ hoặc thay đổi chiến lược khi hoàn cảnh chuyển biến. Những việc đó khác hẳn với việc tiến hành một cuộc chiến nhằm đạt tới kết quả cách xa hàng chục năm.

Nếu bất kỳ kết quả nào cũng có thể được xem là bằng chứng cho một kế hoạch bí mật, dù kế hoạch ấy thành công hay thất bại trên thực tế, giả thuyết đó sẽ không còn tiêu chuẩn kiểm chứng rõ ràng. Muốn hiểu lịch sử, cần đối chiếu giả thuyết với những bằng chứng có khả năng xác nhận hoặc bác bỏ nó, thay vì chỉ chọn những sự kiện phù hợp với kết luận đã có.

5. Điều lịch sử cho thấy

Ngày 30/4/1975, chiến tranh kết thúc với thắng lợi của lực lượng cộng sản và sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Mười sáu năm sau, Liên Xô tan rã. Hai sự kiện đều làm thay đổi sâu sắc cục diện quốc tế, nhưng không vì thế mà trở thành hai giai đoạn tất yếu của cùng một kế hoạch.

Mỹ theo đuổi chiến lược kiềm chế chủ nghĩa cộng sản, tìm cách hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô và bảo vệ vị thế của mình. Washington cũng chủ động khai thác mâu thuẫn giữa Moskva và Bắc Kinh để tạo lợi thế ngoại giao. Những tính toán đó có cơ sở lịch sử, nhưng chưa đủ để chứng minh rằng làm Liên Xô sụp đổ chính là mục tiêu khiến Mỹ tiến hành chiến tranh Việt Nam.

Sự tan rã của Liên Xô cần được giải thích từ toàn bộ tiến trình dẫn đến năm 1991, bao gồm khó khăn kinh tế, cải cách chính trị, sự suy yếu của bộ máy trung ương, các phong trào dân tộc và những quyết định của giới lãnh đạo. Cạnh tranh với Mỹ là một phần của bối cảnh, nhưng không thể thay thế cho việc phân tích những nguyên nhân và biến động bên trong nhà nước Xô viết.

Khi đã biết kết cục, chúng ta rất dễ xâu chuỗi các sự kiện trước đó thành một con đường dường như tất yếu. Nhưng những người sống trong thời điểm lịch sử ấy không biết chắc tương lai sẽ đi về đâu. Họ phải quyết định giữa những thông tin chưa đầy đủ, lợi ích xung đột và những rủi ro nằm ngoài khả năng kiểm soát.

Vì vậy, cần phân biệt việc Mỹ tận dụng chiến tranh Việt Nam để cải thiện vị thế trong cuộc cạnh tranh với Liên Xô với giả thuyết cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô đã là mục tiêu định trước của cuộc chiến. Cho đến khi có bằng chứng trực tiếp và đủ sức thuyết phục cho giả thuyết sau, cách giải thích thận trọng hơn là xem chiến tranh Việt Nam như một mặt trận trong chính sách kiềm chế chủ nghĩa cộng sản, với những mục tiêu và kết quả riêng; còn Liên Xô tan rã là kết cục của một cuộc khủng hoảng phức tạp, do nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài tác động.

Một cường quốc có thể tận dụng kết quả của lịch sử, nhưng điều đó không có nghĩa họ đã hoạch định được lịch sử từ đầu.


Ảnh: Richard Nixon bắt tay Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh, ngày 21/2/1972. Nguồn ảnh: Văn phòng Ảnh Nhà Trắng, lưu trữ tại Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ (NARA). Cái bắt tay lịch sử đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ Mỹ – Trung, phản ánh những tính toán chiến lược xoay quanh Việt Nam, Liên Xô và thế cân bằng quyền lực toàn cầu.


Tư liệu tham khảo 

1. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ – Leo thang chiến tranh tại Vịnh Bắc Bộ, năm 1964. Bối cảnh Mỹ mở rộng can thiệp quân sự tại Việt Nam.

Đọc tại trang Văn phòng Sử học, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: https://history.state.gov/milestones/1961-1968/gulf-of-tonkin

2. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ – Quá trình chấm dứt chiến tranh Việt Nam, giai đoạn 1969–1973. Chính sách của chính quyền Nixon và những nỗ lực ngoại giao nhằm kết thúc chiến tranh.

Đọc tại trang Văn phòng Sử học, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: https://history.state.gov/milestones/1969-1976/ending-vietnam

3. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ – Sự tan rã của Liên Xô, giai đoạn 1989–1992. Diễn biến chính trị dẫn đến sự chấm dứt tồn tại của Liên bang Xô viết.

Đọc tại trang Văn phòng Sử học, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: https://history.state.gov/milestones/1989-1992/collapse-soviet-union

4. Sergey Radchenko – “Chiến tranh Việt Nam và sự chia rẽ Trung – Xô”, trong sách Lịch sử chiến tranh Việt Nam của Đại học Cambridge, xuất bản trực tuyến năm 2025. Phân tích cạnh tranh giữa Liên Xô và Trung Quốc trong quá trình hỗ trợ miền Bắc Việt Nam.

Đọc tại Nhà xuất bản Đại học Cambridge: https://doi.org/10.1017/9781316225264.030

5. Mark Kramer – “Sự tan rã của Liên Xô: Nghiên cứu trường hợp về sự thay đổi đột biến”, Tạp chí Nghiên cứu Chiến tranh Lạnh, tập 24, số 1, năm 2022. Phân tích những cải cách và biến động chính trị dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô.

Đọc tại Tạp chí Nghiên cứu Chiến tranh Lạnh: https://doi.org/10.1162/jcws_a_01059

6. Chris Miller – Cuộc đấu tranh cứu vãn nền kinh tế Liên Xô: Mikhail Gorbachev và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, năm 2016. Nghiên cứu về những khó khăn kinh tế và nỗ lực cải cách trong những năm cuối của Liên Xô. Xem thông tin sách tại Nhà xuất bản Đại học North Carolina.




Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bàn về phạm trù Thiện - ác - Hoàng Văn Thuận

Francis Bacon (1561 - 1626) - một trong những người sáng lập triết học Cận đại

Thuật dùng người của Hàn Phi Tử