NHỮNG VẾT NỨT TRONG TÂM HỒN

 NHỮNG VẾT NỨT TRONG TÂM HỒN

Trong một gia đình, có những cách dạy con được truyền từ đời này sang đời khác. Người lớn từng được dạy phải nghe lời, không được cãi lại, phải cố gắng để cha mẹ nở mày nở mặt; khi trở thành cha mẹ, họ có thể tiếp tục áp dụng những nguyên tắc ấy với con mình. Qua thời gian, điều từng được xem là khuôn phép trong một thế hệ có thể trở thành áp lực đối với thế hệ tiếp theo.

Gia đình là nơi những chuẩn mực về cách sống, cách ứng xử và quan niệm đúng sai được truyền lại. Nhưng cùng với những giá trị tốt đẹp, một số cách đối xử gây tổn thương cũng có thể được duy trì, đơn giản vì người ta đã quen với chúng và tin rằng đó là cách nuôi dạy con đúng đắn.

Vì sao có những người từng chịu tổn thương trong tuổi thơ lại vô tình lặp lại cách đối xử ấy khi trưởng thành? Và điều gì giúp một người nhận ra rằng những gì mình từng trải qua không nhất thiết phải tiếp tục trở thành trải nghiệm của thế hệ sau?

1. Một lời mắng, hai cách hiểu

Hãy hình dung một đứa trẻ thường xuyên bị mắng mỗi khi mắc lỗi. Người lớn có thể cho rằng mình đang nghiêm khắc, giúp con biết sợ sai và trưởng thành hơn. Nhưng đứa trẻ có thể hiểu theo một cách khác: mình kém cỏi, mình luôn làm người khác thất vọng, hoặc chỉ khi nào không mắc lỗi thì mới xứng đáng được yêu thương.

Cùng một hành động, người lớn và trẻ nhỏ có thể hiểu theo những cách rất khác nhau. Điều người lớn xem là lời nhắc nhở nhất thời đôi khi lại trở thành một ký ức dai dẳng trong tâm trí đứa trẻ, nhất là khi những lời trách mắng diễn ra thường xuyên, đi kèm sự hạ thấp, đe dọa hoặc thiếu vắng tình thương.

Một lần bị mắng không quyết định toàn bộ tương lai của một con người. Điều đáng lưu ý là môi trường trẻ sống lâu dài: em có được lắng nghe khi gặp khó khăn không, có được phép mắc lỗi và sửa sai không, hay thường xuyên phải sống trong tâm trạng lo sợ bị chê trách, bỏ rơi hoặc so sánh với người khác?

Những trải nghiệm ấy có thể góp phần hình thành cách một người nhìn nhận bản thân, đối diện với thất bại và xây dựng quan hệ khi trưởng thành. Ảnh hưởng cụ thể ở mỗi người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tính cách, những mối quan hệ nâng đỡ và hoàn cảnh sống về sau.

2. Đứa trẻ học cách nhìn mình qua ánh mắt người khác

Trong những năm đầu đời, trẻ chưa có đầy đủ khả năng để tự đánh giá bản thân. Cách người lớn phản ứng trước cảm xúc, hành vi và sai sót của trẻ góp phần giúp em hiểu mình là ai, điều gì được chấp nhận và mình có thể trông cậy vào người khác đến đâu.

Một đứa trẻ thường xuyên được lắng nghe có thể dần hình thành cảm giác rằng cảm xúc của mình đáng được tôn trọng. Ngược lại, nếu mọi lời bày tỏ đều bị gạt đi, chế giễu hoặc trừng phạt, em có thể học cách che giấu cảm xúc, im lặng để tránh rắc rối hoặc cố gắng làm hài lòng người khác nhằm giữ gìn sự an toàn trong quan hệ.

Khi trưởng thành, những cách ứng phó từng giúp họ vượt qua tuổi thơ có thể tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống. Có người rất sợ mắc lỗi, khó tiếp nhận lời phê bình hoặc luôn cần sự công nhận từ bên ngoài. Có người lại phản ứng gay gắt trước bất đồng, bởi họ từng quen với việc quyền lực trong gia đình được thể hiện bằng quát mắng và áp đặt.

Tuy nhiên, không nên nhìn những biểu hiện này rồi kết luận rằng tất cả đều bắt nguồn từ tuổi thơ. Một hành vi có thể hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Quá khứ giúp ta hiểu thêm về một con người, nhưng không đủ để giải thích toàn bộ con người ấy.

3. Khi sự vâng lời trở thành thước đo

Trong nhiều gia đình, việc con cái nghe lời cha mẹ được xem là biểu hiện của sự ngoan ngoãn và lòng hiếu thảo. Những giá trị này có thể giúp duy trì sự gắn kết, trách nhiệm và trật tự giữa các thành viên. Vấn đề nảy sinh khi sự vâng lời trở thành tiêu chuẩn gần như tuyệt đối, còn việc đặt câu hỏi, bày tỏ bất đồng hay lựa chọn khác với mong muốn của người lớn bị xem là hỗn hào.

Quan niệm nuôi dạy con không tồn tại tách rời hoàn cảnh xã hội. Những thế hệ sống trong điều kiện kinh tế khó khăn, ít cơ hội học tập hoặc chịu ảnh hưởng mạnh của trật tự gia đình truyền thống có thể coi kỷ luật nghiêm khắc là điều cần thiết để con cái tồn tại và tiến thân. Trong một số hoàn cảnh, cha mẹ tin rằng mình phải cứng rắn vì cuộc sống vốn khắc nghiệt.

Nhưng việc hiểu hoàn cảnh hình thành một cách giáo dục không có nghĩa là mọi phương pháp đều đem lại kết quả tốt. Khi trẻ chỉ được yêu cầu phục tùng mà không được giải thích, em có thể học cách tuân theo người có quyền lực thay vì hiểu lý do của quy tắc. Khi sự xấu hổ và nỗi sợ được dùng thường xuyên để điều chỉnh hành vi, trẻ có thể làm theo trước mắt nhưng không nhất thiết phát triển được khả năng tự nhận thức và tự chịu trách nhiệm.

Cũng cần tránh đánh đồng sự nghiêm khắc với bạo lực hay xem mọi gia đình truyền thống đều áp đặt. Cha mẹ có thể đặt giới hạn rõ ràng mà vẫn tôn trọng con; trẻ có thể học cách chịu trách nhiệm mà không phải chịu nhục mạ. Điều quan trọng nằm ở cách quyền uy được sử dụng và việc đứa trẻ có được đối xử như một con người với cảm xúc, nhu cầu và khả năng phát triển riêng hay không.

4. Khi tổn thương được truyền qua các thế hệ

Một người từng lớn lên trong môi trường khắc nghiệt có thể tự nhủ rằng sau này mình sẽ không đối xử với con như cha mẹ đã từng đối xử với mình. Nhưng khi căng thẳng, mệt mỏi hoặc mất kiểm soát, họ đôi khi lại sử dụng chính những lời nói và cách phản ứng mà bản thân từng căm ghét.

Điều này không nhất thiết xảy ra vì họ muốn làm tổn thương con. Những cách ứng xử quen thuộc có thể trở thành phản ứng tự động, nhất là khi một người chưa có cơ hội nhìn lại trải nghiệm cũ hoặc chưa biết cách xử lý cảm xúc theo một hướng khác. Họ có thể lặp lại điều mình từng chứng kiến, ngay cả khi về lý trí, họ không muốn làm như vậy.

Sự tiếp nối giữa các thế hệ cũng không chỉ diễn ra qua hành vi trực tiếp. Nó có thể nằm trong những niềm tin được truyền lại: trẻ con không được cãi người lớn; cha mẹ luôn biết điều gì tốt nhất; thể diện gia đình quan trọng hơn cảm xúc cá nhân; chịu đựng là dấu hiệu của mạnh mẽ. Những quan niệm này có thể được củng cố bởi môi trường sống và sự đánh giá của cộng đồng, khiến một cách đối xử tồn tại lâu dài mà ít bị chất vấn.

Dẫu vậy, không nên coi tổn thương là một di sản tất yếu. Nhiều người dù từng trải qua tuổi thơ khó khăn vẫn xây dựng được những mối quan hệ lành mạnh, đặc biệt khi họ có sự hỗ trợ phù hợp và cơ hội học những cách ứng xử mới. Ngược lại, một người có tuổi thơ tương đối bình yên vẫn có thể gặp khó khăn trong quan hệ vì những nguyên nhân khác.

Nhìn từ góc độ lịch sử xã hội, sự truyền nối giữa các thế hệ không phải là quá trình sao chép nguyên vẹn. Mỗi thế hệ tiếp nhận những giá trị từ thế hệ trước, nhưng cũng diễn giải và điều chỉnh chúng trong hoàn cảnh riêng. Có những tập quán được giữ lại vì vẫn hữu ích; có những điều dần thay đổi khi con người nhận ra cái giá mà chúng gây ra. Gia đình vì thế vừa là nơi lưu giữ những khuôn mẫu cũ, vừa có khả năng thay đổi chúng.

5. Hiểu quá khứ để sống khác đi

Nhìn lại tuổi thơ không có nghĩa là quy mọi khó khăn hiện tại cho cha mẹ, cũng không phải để tìm một người chịu trách nhiệm cho tất cả những điều đã xảy ra. Mục đích quan trọng hơn là nhận diện những khuôn mẫu đang ảnh hưởng đến mình.

Một người luôn sợ làm người khác thất vọng có thể thử tự hỏi: mình đang thực sự muốn điều gì, hay chỉ đang cố tránh bị chê trách? Người thường nổi nóng với con có thể nhìn lại điều gì khiến mình mất bình tĩnh và tìm cách phản ứng khác. Người khó bày tỏ nhu cầu có thể bắt đầu từ việc nói rõ cảm xúc của mình trong những mối quan hệ an toàn.

Những thay đổi ấy không nhất thiết diễn ra nhanh chóng. Có những phản ứng đã hình thành qua nhiều năm, cần thời gian, sự kiên nhẫn và đôi khi cần đến sự hỗ trợ của chuyên gia tâm lý. Việc hiểu nguyên nhân có thể giúp ta bớt tự trách, nhưng sự thay đổi vẫn đòi hỏi những lựa chọn cụ thể trong hiện tại.

Đồng thời, hiểu hoàn cảnh của cha mẹ cũng không buộc một người phải phủ nhận tổn thương mình đã trải qua. Có thể thừa nhận rằng cha mẹ từng chịu nhiều áp lực, thiếu kiến thức hoặc chỉ biết nuôi dạy con theo cách họ đã được dạy, trong khi vẫn nhận ra một số hành vi của họ đã gây ra hậu quả không tốt. Lòng cảm thông và việc đặt giới hạn không nhất thiết loại trừ nhau.

6. Điều chúng ta để lại trong một con người

Mỗi thế hệ đều nhận từ thế hệ trước một phần di sản vô hình: cách yêu thương, cách giải quyết mâu thuẫn, cách nhìn về quyền lực, trách nhiệm và giá trị của bản thân. Trong di sản ấy có những điều đáng gìn giữ, nhưng cũng có những khuôn mẫu cần được xem xét lại.

Một lời mắng không quyết định số phận của một đứa trẻ. Một sai lầm của cha mẹ cũng không xóa bỏ mọi điều tốt đẹp họ từng làm. Nhưng khi sự hạ thấp, sợ hãi và áp đặt trở thành cách đối xử thường xuyên, chúng có thể để lại dấu vết lâu dài và ảnh hưởng đến cách đứa trẻ bước vào những mối quan hệ sau này.

Điều đáng quý là con người có khả năng nhìn lại những gì mình đã tiếp nhận, phân biệt điều gì nên giữ và điều gì cần thay đổi. Ta không thể lựa chọn gia đình hay hoàn cảnh đã nuôi mình lớn lên, nhưng có thể từng bước học cách đối xử khác đi với bản thân và những người bên cạnh.

Có lẽ một trong những thay đổi có ý nghĩa nhất giữa các thế hệ bắt đầu từ đó: những điều từng được xem là bình thường không còn mặc nhiên được truyền lại chỉ vì người đi trước đã làm như vậy. Khi một người biết lắng nghe thay vì làm nhục, giải thích thay vì chỉ áp đặt, và đặt giới hạn mà vẫn giữ được sự tôn trọng, họ đang góp phần tạo ra một cách sống khác cho những người đến sau.


Ảnh: Hai bức tranh The Father's Curse: The Ungrateful Son (Lời nguyền của người cha: Đứa con bất hiếu) và The Father's Curse: The Son Punished (Lời nguyền của người cha: Đứa con bị trừng phạt), do họa sĩ Pháp Jean-Baptiste Greuze (1725–1805) sáng tác vào khoảng năm 1777–1778, hiện thuộc bộ sưu tập Bảo tàng Louvre, Paris. Tranh khắc họa xung đột gia đình, sự giận dữ của người cha và nỗi đau của những người thân. Qua đó, hai tác phẩm gợi suy ngẫm về cách quyền uy, sự trừng phạt và những khuôn phép gia đình có thể ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa những thế hệ.



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bàn về phạm trù Thiện - ác - Hoàng Văn Thuận

Francis Bacon (1561 - 1626) - một trong những người sáng lập triết học Cận đại

Thuật dùng người của Hàn Phi Tử