NHO GIÁO TỪ PHƯƠNG THUỐC CỨU LOẠN ĐẾN BỘ KHUNG CAI TRỊ CỦA ĐÔNG Á
NHO GIÁO TỪ PHƯƠNG THUỐC CỨU LOẠN ĐẾN BỘ KHUNG CAI TRỊ CỦA ĐÔNG Á
________________________________________
NHO GIÁO RA ĐỜI TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA THỜI XUÂN THU - CHIẾN QUỐC
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc vào giai đoạn Xuân Thu - Chiến Quốc, khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 3 TCN, và là sản phẩm phản ứng trực tiếp với cuộc khủng hoảng toàn diện nhất của lịch sử Trung Hoa thời kỳ đó. Khổng Tử sống từ năm 551 đến năm 479 TCN, Mạnh Tử từ khoảng năm 372 đến năm 289 TCN. Cả hai đều chứng kiến trật tự cũ tan rã.
Nho giáo không thể ra đời sớm hơn. Thời Tây Chu, trật tự xã hội vận hành bằng hệ thống tông pháp (dòng họ) và phong kiến (chia đất phong cho chư hầu), mọi người sống theo thứ bậc huyết thống tự nhiên và quyền lực trung ương nhà Chu còn mạnh. Khi trật tự ổn định và chạy tốt, con người chưa có nhu cầu sáng tạo một hệ tư tưởng mới để đi tìm trật tự.
Đến thời Xuân Thu nhà Chu suy yếu, chư hầu xâu xé nhau, "Lễ hỏng nhạc tàn", vua bị tước quyền, tôi giết vua, con giết cha, đời sống rơi vào chém giết và bất ổn liên miên. Khổng Tử tìm cách dựng lại trật tự bằng cách nhìn về quá khứ, về thời Chu Công và Văn Vương, để rút ra các chuẩn mực đạo đức. Nho giáo là phương thuốc cứu thế cho một xã hội hỗn loạn cực độ.
Nho giáo cũng không thể ra đời muộn hơn. Năm 221 TCN nhà Tần thống nhất Trung Quốc bằng bạo lực và luật pháp cứng rắn của Pháp gia. Nho giáo phải có sẵn từ trước thì nhà Hán sau đó mới có nền tảng tư tưởng để tiếp thu, dùng nó làm mềm bộ máy quản trị quốc gia.
________________________________________
VÌ SAO CHỈ TRUNG QUỐC SINH RA MỘT HỌC THUYẾT NHƯ VẬY
Nho giáo không giống Kitô giáo, Hồi giáo (tôn giáo) hay triết học Hy Lạp (lý tính thuần túy). Nó là triết học chính trị - xã hội lấy tình thân gia đình (hiếu, đễ) làm gốc rồi mở rộng thành đạo đức quốc gia (trung, nghĩa). Trong cách nhìn đó gia đình là mô hình thu nhỏ của quốc gia, và vua là "cha mẹ của dân" (Dân chi phụ mẫu).
Ở Hy Lạp và vùng Địa Trung Hải, xã hội dựa trên thương mại đường biển và đô thị thị dân (polis). Họ xây quy tắc trên luật pháp, hợp đồng và quyền công dân, không dựa vào huyết thống hay đạo đức gia đình để quản trị nhà nước.
Ở Ấn Độ, hệ thống Varna dựa trên căn tính tâm linh và tôn giáo (Bà La Môn, Ấn Độ giáo) cùng quan niệm kiếp trước kiếp sau, thay vì tập trung vào trật tự thế tục của đời này.
Ở phương Tây và Trung Đông, người ta tìm sự cứu rỗi và trật tự từ Thần linh, từ Chúa hay Allah, và mọi trật tự xã hội đều do Thượng đế ban tặng.
Nho giáo đi đường khác. Khổng Tử chủ trương "Kính quỷ thần nhưng ở xa chúng" và "Bất ngữ quái, lực, loạn, thần" (1). Nho giáo không hứa thiên đàng hay địa ngục, mà tập trung vào cách sống, cách quản lý con người và đất nước ngay ở kiếp này.
Nho giáo còn trở thành công cụ cai trị độc quyền nhờ khoa cử. Các kỳ thi viết để tuyển quan được thể chế hóa dưới triều Tùy khoảng năm 605 và kéo dài hơn 1.300 năm cho đến khi bị bãi bỏ năm 1905. Bộ máy quan lại không dựa vào dòng dõi xuất thân hay hàng giáo sĩ, mà dựa vào khả năng thuộc lòng và vận dụng kinh sách Nho gia. Cấu trúc tri thức - hành chính này là duy nhất trên thế giới thời kỳ đó.
________________________________________
NHO GIÁO BỊ NHÀO NẶN THÀNH CÔNG CỤ CAI TRỊ NHƯ THẾ NÀO
Khổng Tử phản đối bạo lực và đề cao nhân, đức, lễ. Nhưng các vua chúa tập quyền hiểu rằng chỉ dùng đức thì không quản nổi một đế chế hàng triệu dân. Sau bài học nhà Tần sụp nhanh vì cai trị thuần bằng pháp luật, nhà Hán giữ bộ máy cứng rắn và hình phạt nặng của Pháp gia ở bên trong, rồi bọc bên ngoài một lớp vỏ nhân nghĩa Nho giáo để biện minh cho quyền lực và xoa dịu dân chúng. Hán Tuyên Đế (trị vì từ năm 74 đến năm 48 TCN) nói thẳng rằng chế độ nhà Hán vốn trộn lẫn bá đạo với vương đạo. Công thức này về sau được gọi là "Ngoại Nho nội Pháp".
Đổng Trọng Thư thời Hán Vũ Đế (trị vì từ năm 141 đến năm 87 TCN) ghép Âm Dương Ngũ Hành vào Nho giáo để dựng học thuyết "Thiên nhân cảm ứng". Vua là Thiên tử, nhận mệnh Trời xuống cai trị, ý chí của vua đại diện cho ý Trời, và bất kính với vua là trái mệnh Trời. Quyền lực chính trị thuần túy vì vậy được nâng thành quyền lực thần thánh, ép buộc thần dân phục tùng tuyệt đối.
Ghi chép truyền thống kể rằng Hán Vũ Đế nghe theo Đổng Trọng Thư "Bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho thuật", lập Thái học dạy Ngũ Kinh và chỉ cho người thông Nho học làm quan. Giới nghiên cứu vẫn tranh luận về thời điểm và mức độ của việc này, và nhiều nghiên cứu mô tả đó là một quá trình kéo dài từ Vũ Đế qua Tuyên Đế đến Nguyên Đế chứ không chỉ là một sắc lệnh. Cụm "Bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho thuật" là cách tóm lược của đời sau, và chính sách thực tế của Hán Vũ Đế còn dùng cả những biện pháp và nhân sự không thuần Nho.
Nho giáo nguyên thủy nhấn mạnh quan hệ hai chiều. Khổng Tử trả lời Lỗ Định Công về cách vua tôi đối đãi nhau: "Vua đãi tôi bằng Lễ, tôi thờ vua bằng Trung." Mạnh Tử đi xa hơn với câu "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh", nghĩa là dân là quý nhất, rồi đến đất nước, vua là hàng nhẹ nhất (1).
Khi Tề Tuyên Vương hỏi bề tôi có được giết vua hay không, Mạnh Tử đáp rằng kẻ hại nhân gọi là tặc, kẻ hại nghĩa gọi là tàn, kẻ tàn tặc ấy chỉ là một gã thất phu: "Tôi chỉ nghe nói giết gã thất phu Trụ, chưa nghe nói giết vua." (1) Với Mạnh Tử, vua vô đạo mất tư cách làm vua và dân có quyền lật đổ.
Các chế độ tập quyền biến quan hệ hai chiều thành phục tùng một chiều, gọi là Tam Cương (Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu - Phụ), được hệ thống hóa từ thời Đông Hán trong Bạch hổ thông nghĩa (2). Công thức của nó là "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" và "Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu". Vua luôn đúng, bề tôi phải tuyệt đối trung thành bất chấp vua đúng hay sai, và sự phục tùng bề trên thành tiêu chuẩn đạo đức tối cao, triệt tiêu tư duy phản biện. Hai câu này không nằm trong kinh điển Nho gia và không nhà Nho danh tiếng nào nói ra, chúng xuất hiện trong tiểu thuyết và hí khúc đời Minh - Thanh, nhưng cách hiểu ấy chính là chuẩn mực của trật tự phong kiến.
Giữa thời Hán và thời Tống, Phật giáo và Đạo giáo có chỗ đứng lớn, và Phật giáo rất thịnh thời Đường (từ năm 618 đến năm 907). Hàn Dũ (sống từ năm 768 đến năm 824), một học giả thời Đường, từng dâng thư xin vua bác bỏ hoàn toàn Phật giáo, và đôi khi bị coi là nhà Tân Nho giáo đầu tiên. Các học giả thời Tống cho rằng những vấn nạn của xã hội bắt nguồn từ việc nhiều thế kỷ trước đã xao nhãng Nho giáo.
Đến thời Tống - Minh, Nho giáo tiếp tục bị gọt đẽo thành Lý học. Chu Hi (sống từ năm 1130 đến năm 1200) chú giải Tứ Thư, và đến Minh - Thanh Tứ Thư là nội dung thi cử (3). Khẩu hiệu gắn với ông là "Tồn thiên lý, diệt nhân dục", nghĩa là giữ lấy lý trời, tiêu diệt ham muốn con người. Trình Di (sống từ năm 1033 đến năm 1107) cùng trường phái, khi được hỏi về người góa phụ nghèo khó có nên tái giá, đã nói: "Đói chết là việc rất nhỏ, thất tiết là việc rất lớn" (3). Nho giáo lúc này thành những chiếc xiềng đạo đức khắt khe siết chặt đời sống cá nhân, đặc biệt là phụ nữ.
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương ra lệnh cho Lưu Tam Ngô cắt khỏi sách Mạnh Tử những chỗ bất tiện cho nền chuyên chế, tạo ra bản Mạnh Tử tiết văn và dùng làm chuẩn cho khoa cử (1). Lưu Tam Ngô tự nêu trong lời đề từ rằng đã bỏ 85 điều, còn thống kê của giới nghiên cứu hiện đại là 89 điều, và theo một số nguồn trong đó có câu về dân là quý nhất và đoạn đối thoại về gã thất phu Trụ vừa dẫn ở trên (1). Tinh thần phản biện và quyền lật đổ bạo chúa của Mạnh Tử bị gạt đi, còn chữ trung quân được đẩy lên thành nghĩa vụ tối thượng.
________________________________________
VÌ SAO TRUNG QUỐC KHÔNG SINH RA TƯ TƯỞNG MỚI THAY THẾ SUỐT HƠN 2.000 NĂM
Khoa cử đúc chung một khuôn cho bộ não của giới tinh hoa. Muốn làm quan, có quyền, có tài sản, giới tri thức phải học thuộc Tứ Thư và Ngũ Kinh, và qua hàng chục thế hệ họ không có lý do hay động lực nghĩ khác. Nghĩ khác đồng nghĩa với trượt khoa thi và tự gạch tên mình khỏi bộ máy quyền lực.
Vua và sĩ phu cộng sinh với nhau. Nhà vua dùng Nho giáo để hợp thức hóa quyền lực và tự xưng Thiên tử, sĩ phu dùng Nho giáo để độc quyền bộ máy hành chính. Cả hai bên đều có lợi ích sống còn trong việc giữ nguyên trạng thái này.
Tư tưởng mới chỉ xuất hiện khi cấu trúc kinh tế đổi thay. Ở Châu Âu, thương mại phát triển sinh ra tầng lớp tư sản, kéo theo triết học Ánh sáng và cách mạng công nghiệp. Trung Quốc suốt hơn 2.000 năm lấy nông dân bám đất làm nền tảng, cần ổn định, tôn ti và sự phối hợp cộng đồng như trị thủy, đắp đê, và Nho giáo với cấu trúc gia đình - dòng họ - làng xã đáp ứng hoàn hảo nhu cầu đó.
Triều đình theo chính sách "Trọng nông ức thương", xếp thương nhân vào hạng cuối của 4 hạng dân. Thương nhân dù giàu vẫn không có địa vị xã hội, muốn ngẩng đầu phải cho con học Nho để thi làm quan. Khi tầng lớp tư sản không thể thành hình độc lập, nhu cầu về tự do, dân chủ, khế ước xã hội không có chỗ nảy sinh.
Nho giáo còn có cơ chế tự vệ là hấp thụ chứ không bài trừ. Phật giáo từ Ấn Độ du nhập không làm sụp Nho giáo mà bị Trung Hoa hóa, và đến thời Tống - Minh sĩ phu kết hợp cốt lõi Nho giáo với Phật giáo và Đạo giáo để tạo ra Lý học (Tân Nho giáo). Tư tưởng ngoại lai cuối cùng bị biến thành công cụ gia cố thêm cho Nho giáo.
Người Mông Cổ (nhà Nguyên) và người Mãn (nhà Thanh) khi thắng Trung Quốc về quân sự đều nhận ra không thể quản lý đông đảo dân Hán nếu không dùng bộ máy quan lại Nho giáo. Nhà Nguyên tạm ngưng khoa cử rồi khôi phục với hạn ngạch ưu tiên người Mông Cổ, còn nhà Thanh dùng gần như nguyên vẹn hệ thống khoa cử của nhà Minh. Kẻ xâm lược bị văn hóa Nho giáo đồng hóa ngược.
Địa lý cũng góp phần. Trung Quốc xưa được bao bọc bởi sa mạc, cao nguyên, đại dương và các tộc du mục kém phát triển hơn, tự xem mình là "Trung nguyên" còn xung quanh toàn "man di". Không có đối thủ ngang hàng ở sát bên để cạnh tranh sinh tồn, như các quốc gia Châu Âu liên tục xâu xé và đua nhau phát triển công nghệ, tư tưởng, Trung Quốc rơi vào trạng thái tự mãn trí tuệ. Mô hình "đã đủ tốt" giúp một đế chế lục địa ổn định sau mỗi lần đổi triều đại, và mỗi khi khủng hoảng người ta không tìm giải pháp mới mà đổ lỗi cho "vua suy đạo đức" rồi quay lại áp dụng Nho giáo cho chuẩn chỉnh hơn.
Chỉ khi bị tàu chiến, đại bác và tư tưởng phương Tây ép mở cửa từ Chiến tranh Nha phiến (từ năm 1839 đến năm 1842), cái khuôn khép kín này mới bắt đầu vỡ. Khoa cử bị bãi bỏ năm 1905 và nhà Thanh sụp đổ năm 1912.
Tháng 9 năm 1915 Trần Độc Tú sáng lập tạp chí Thanh niên ở Thượng Hải, sau đổi tên thành Tân Thanh niên (4). Từ cuối năm 1916 ông công kích Nho giáo là gắn với chế độ quân chủ, không hợp với thể chế cộng hòa dựa trên độc lập, bình đẳng và tự do, và đưa "ông Khoa học" cùng "ông Dân chủ" thay cho các giá trị Nho giáo (4). Từ năm 1973 đến năm 1976, chiến dịch "Phê Lâm phê Khổng" dưới thời Mao Trạch Đông lên án Khổng Tử là kẻ bảo vệ chế độ nô lệ.
________________________________________
TRẬT TỰ ĐÓ XUỐNG ĐẾN TỪNG GIA ĐÌNH VÀ ĐƯỢC NGƯỜI DÂN COI LÀ TRUYỀN THỐNG
Điểm tinh vi nhất của bộ máy chuyên chế phong kiến là cài được hệ tư tưởng vào từng tế bào nhỏ nhất của xã hội: gia đình, dòng họ và làng xã. Gia đình biến thành một tiểu vương quốc chuyên chế thu nhỏ, nơi người cha hoặc người đàn ông lớn tuổi nhất nắm toàn quyền quyết định tài sản, hôn nhân của con cái và số phận các thành viên. Đứa trẻ từ khi sinh ra đã được dạy rằng cãi lời cha mẹ là bất hiếu, tội đứng đầu trăm tội.
Nho giáo xếp nam là Dương (trời, tôn quý) và nữ là Âm (đất, hạ tiện) theo một thuyết Âm Dương xơ cứng. "Tam tòng tứ đức" trói buộc phụ nữ suốt đời: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Phụ nữ bị hạn chế nặng nề về học hành, tài sản và hôn nhân, gần như không được tự quyết định đời mình.
Đỉnh điểm của sự tàn nhẫn này là tục bó chân. Theo truyền thuyết, tục này khởi đầu ở triều đình Nam Đường của Lý Dục vào thế kỷ 10, từ vũ nữ Yêu Nương. Bàn luận bằng văn bản sớm nhất còn lại là của Trương Bang Cơ, ngay sau năm 1148, ông viết rằng bó chân mới xuất hiện gần đây và chưa từng được nhắc trong sách các đời trước (5), còn bằng chứng khảo cổ sớm nhất là các ngôi mộ thời Nam Tống thế kỷ 13. Mức độ phổ biến của tục này thay đổi theo vùng, giai tầng và thời kỳ. Người ta ước tính đến thế kỷ 19 có khoảng 40% đến 50% phụ nữ Trung Quốc bị bó chân, và tục này bị chính thức cấm năm 1912 nhưng ít hiệu quả.
Trong dòng họ và làng xã, hương ước và gia phả được xây dựng hoàn toàn trên kinh điển Nho giáo. Trưởng tộc, lý trưởng, hội đồng kỳ hào nắm quyền sinh sát về mặt đạo đức và dư luận. Người bị dòng họ khai trừ hoặc bị làng "gọt đầu bôi vôi", loại khỏi không gian cộng đồng, coi như không thể sống nổi. Người có tư duy khác biệt bị miệng lưỡi thế gian trừng phạt bằng cô lập và mang tiếng thiếu đạo đức.
Người dân không những thường không cảm thấy bị áp bức mà nhiều khi còn tự nguyện bảo vệ các chuẩn mực đó. Họ sinh ra, lớn lên, lập gia đình và chết đi trong cùng một không gian tư tưởng nên không có điểm tựa nào để so sánh, từ ông lý trưởng đến quan triều đình đều nói cùng một thứ ngôn ngữ đạo đức, và từ nhỏ ai cũng bảo "Xưa nay vẫn thế". Ở Châu Âu thời Trung cổ có sự đối lập giữa quyền lực nhà vua và quyền lực Giáo hoàng, còn ở Đông Á Nho giáo phủ bóng từ chính trị, pháp luật, văn học đến cưới hỏi, đám tang. Khi không có lựa chọn thứ hai, những chuẩn mực đó tự động trở thành chân lý duy nhất.
Cấu trúc dòng họ và làng xã đùm bọc lẫn nhau là chiếc phao cứu sinh duy nhất của người nông dân trước thiên tai, dịch bệnh và chiến tranh. Cái giá để đổi lấy sự bảo vệ của cộng đồng là cúi đầu tuân thủ trật tự, và kỷ luật thép ấy khiến người ta thấy an toàn khi bám vào nó.
Nhà nước phong kiến còn đánh tráo khái niệm, lồng những tình cảm tự nhiên và cao đẹp của con người vào khuôn khổ phục tùng trật tự. Thương cha mẹ trở thành phải nghe lời cha mẹ tuyệt đối, và cá nhân mất quyền tự chủ. Kính trọng người lớn trở thành phải chấp nhận tôn ti trong làng xã, và mất tinh thần phản biện. Hiếu thảo với gia đình trở thành phải trung thành với vua, theo công thức "Trung hiếu nhất thể". Ai muốn làm người tử tế, hiếu thảo, sống đẹp ở làng thì buộc phải đi qua lăng kính Nho giáo, còn phản kháng trật tự đó bị kết án là bất nhân, bất nghĩa, vô đạo đức, và người dân tin rằng bỏ cái khung ấy đi thì xã hội sẽ đại loạn.
Một thói quen, kể cả trọng nam khinh nữ, ép duyên hay phục tùng tuyệt đối, khi được duy trì qua 3 đến 4 thế hệ thì được gọi bằng cái tên "Tục lệ của tổ tiên" hay "Truyền thống ngàn đời", và nghi ngờ nó bị coi là phản bội cội nguồn.
Giới sĩ phu và triều đình không bao giờ giải thích cho dân rằng họ dùng Nho giáo để quản lý xã hội cho dễ. Họ tuyên truyền đó là "Thiên lý": vũ trụ vận hành thế nào thì xã hội phải vận hành đúng như thế, Vua là Mặt Trời và Dân là muôn vật, Cha là Trời và Con là Đất. Trái với trật tự này là ngược quy luật vạn vật và sẽ bị Trời phạt bằng thiên tai, mất mùa. Quyền lực chính trị, quyền lực đạo đức và thần quyền kết hợp lại biến Nho giáo thành một niềm tin mang tính tâm linh.
Qua hàng trăm, hàng nghìn năm, lớp vỏ Nho giáo thấm sâu vào máu thịt văn hóa Á Đông, trong đó có Việt Nam, và bị nhầm với văn hóa gốc của dân tộc. Sự phục tùng người lớn tuổi được gọi là "hiếu thảo truyền thống", sự hy sinh cá nhân cho tập thể gia đình và dòng họ được gọi là "đức tính hy sinh", sự trọng danh dự trước miệng lưỡi làng xã được gọi là "lòng tự trọng". Nhờ vậy một hệ tư tưởng sinh ra để bảo vệ ngai vàng và sự thống trị của tầng lớp trên lại khoác được chiếc áo "đạo lý làm người", và khi xã hội hiện đại tiến đến quyền cá nhân, tự do và bình đẳng, việc gỡ bỏ những định kiến này vấp phải sức ì lớn từ chính tâm lý bên trong mỗi con người.
________________________________________
NHO GIÁO NGOÀI TRUNG QUỐC: NHẬT BẢN KHÁC BIỆT
Nho giáo khi du nhập vào Nhật Bản trải qua một quá trình Nhật Bản hóa triệt để, tạo ra những khác biệt căn bản so với Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam. Nguyên nhân là xã hội Nhật vốn là xã hội phong kiến quân phiệt do chiến binh Samurai thống trị, không phải xã hội văn quan chuyên chế như 3 nước còn lại.
Nho giáo đến Nhật qua bán đảo Triều Tiên. Theo truyền thuyết trong Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ (6), học giả Wani của nước Bách Tế mang Luận Ngữ sang Nhật vào khoảng thế kỷ 4 đến thế kỷ 5, nhưng niên đại 2 bộ sách nêu không thống nhất và các nhà sử học hiện đại thường coi Wani là nhân vật mang tính truyền thuyết. Năm 604, Hiến pháp 17 điều của Thái tử Shotoku, nhiếp chính của Nữ hoàng Suiko, mang nội dung chính trị Nho giáo, nhấn mạnh lòng trung với chủ và với cha (7).
Khác biệt thứ nhất nằm ở thứ tự giữa trung và hiếu. Ở Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên, hiếu với cha mẹ và gia đình là gốc của đạo đức. Trong Luận Ngữ, Diệp Công kể rằng ở xứ ông có người ngay thẳng, khi cha trộm cừu thì con đứng ra làm chứng, và Khổng Tử đáp: "Cha giấu lỗi cho con, con giấu lỗi cho cha, sự ngay thẳng nằm trong đó." (1)
Ở Nhật Bản thời Edo - Tokugawa, các nhà Nho như Hayashi Razan nhấn mạnh trung với lãnh chúa nhiều hơn hiếu, vốn là đạo đức của gia đình. Khi nghĩa vụ với chủ tướng xung đột với tình cảm gia đình, người Nhật bắt buộc hy sinh gia đình, thậm chí hy sinh bản thân, theo tinh thần Samurai và Bushido. Nghĩa vụ thần thuộc mang tính tuyệt đối và công khai hơn nhiều so với tình cảm huyết thống.
Khác biệt thứ hai là thuyết Mệnh Trời và quyền lật đổ vua. Ở Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam, Nho giáo thừa nhận Thiên mệnh của Mạnh Tử, vua tàn bạo mất đức thì Mệnh Trời chuyển sang người khác, nên lịch sử 3 nước liên tục đổi triều đại. Nhật Bản loại bỏ tư tưởng lật đổ này, dựa trên tín ngưỡng "Vạn thế nhất hệ", theo đó Thiên hoàng là con cháu Nữ thần Mặt Trời Amaterasu, dòng dõi liên tục không bao giờ bị ngắt quãng. Nho giáo Nhật bị biến đổi để bảo vệ tuyệt đối tính vĩnh cửu của Thiên hoàng và cấu trúc quyền lực của Tướng quân (Shogun), và lật đổ dòng giống vua bị coi là phản nghịch chống lại quy luật vũ trụ.
Khác biệt thứ ba là thể chế. Ở Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên, đất nước do tầng lớp sĩ phu quan lại quản lý qua thi cử, và một nông dân nghèo học giỏi vẫn có thể đỗ làm quan lớn dù tỷ lệ thấp, nên Nho giáo tạo ra một mức cơ động xã hội nhất định. Nhật Bản không có khoa cử quốc gia để chọn quan, xã hội chia giai cấp cha truyền con nối khắt khe theo thứ tự Sĩ (Samurai), Nông, Công, Thương. Tầng lớp "Sĩ" ở Nhật là võ sĩ cầm kiếm chứ không phải học giả cầm bút, và Nho giáo ở đó không dùng chủ yếu để chọn người tài từ dân gian mà làm bộ quy tắc đạo đức và tư tưởng rèn luyện võ sĩ, biến những chiến binh thô bạo thời Chiến Quốc thành những người quản lý biết trung thành và tuân thủ kỷ luật trong thời bình.
Khác biệt thứ tư là sự hòa trộn tín ngưỡng. Ở Trung Quốc, và về sau ở Việt Nam và Triều Tiên, Nho giáo thường là hệ tư tưởng chính trị thống trị, còn Phật giáo và Đạo giáo bị đẩy xuống hàng thứ hai hoặc hòa trộn thành "Tam giáo đồng nguyên" với Nho giáo làm chủ đạo. Ở Nhật Bản, Nho giáo chưa bao giờ độc tôn hoàn toàn và phải chung sống với Shinto, tín ngưỡng bản địa thờ thần linh và tổ tiên.
Nho giáo cung cấp khung khổ triết học và đạo đức xã hội, Shinto cung cấp gốc rễ tâm linh và tính chính thống của Thiên hoàng. Sự pha trộn này, cùng với Phật giáo, tạo ra Bushido, một hệ tư tưởng độc bản của Nhật mà các nước Đông Á khác không có.
Việc nhấn mạnh kỷ luật, trung thành với tập thể và tinh thần thực dụng của lớp võ sĩ giúp Nhật Bản về sau tiếp thu văn minh phương Tây thời Minh Trị nhanh và quyết liệt hơn hẳn sự xơ cứng của triều đình nhà Thanh và nhà Nguyễn.
________________________________________
VÌ SAO VIỆT NAM VÀ TRIỀU TIÊN BỊ HÁN HÓA SÂU
Trung Quốc tiếp giáp hàng chục tộc người như Hung Nô, Mông Cổ, Tây Tạng, nhưng chỉ Việt Nam và Triều Tiên, cùng Nhật Bản dù không giáp đường biên giới đất liền, bị cuốn sâu vào quỹ đạo văn hóa Hán. Có 4 nguyên nhân.
Nguyên nhân thứ nhất là phương thức sinh tồn. Việt Nam và Triều Tiên là các vùng nông nghiệp định cư, đặc biệt Việt Nam là nông nghiệp lúa nước đồng bằng, còn mô hình Nho giáo và thể chế chuyên chế Trung Hoa sinh ra để quản lý cư dân bám đất, trị thủy và tổ chức làng xã. Cấu trúc xã hội 2 nước vì thế có độ tương thích rất cao với mô hình quản trị Hán, và việc tiếp thu giúp vua chúa quản lý đất nước hiệu quả hơn hẳn.
Các hàng xóm du mục hay sống trên cao nguyên như Mông Cổ, Tây Tạng, Hung Nô, Đột Quyết thì ngược lại. Xã hội du mục dựa trên bộ tộc, di chuyển liên tục và tinh thần chiến đấu, nên bộ máy Nho giáo trọng nông quản lý cư dân cố định hoàn toàn vô dụng với thảo nguyên hay cao nguyên, và họ không có nhu cầu lẫn điều kiện để bị Hán hóa đời sống.
Nguyên nhân thứ hai là thời gian và cường độ cai trị trực tiếp. Các vùng thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay bị đưa vào hệ thống quận huyện của nhà Hán từ năm 111 TCN, khi nhà Hán chinh phục Nam Việt, cho đến năm 938 khi Ngô Quyền thắng quân Nam Hán ở Bạch Đằng, và năm 939 ông xưng vương. Trong gần 1.000 năm đó, qua nhiều triều đại, Trung Quốc thi hành chính sách Hán hóa, áp đặt chữ Hán, luật pháp, phong tục, đưa người Hán sang sinh sống và kết hôn với người bản địa. Đây là khoảng thời gian đủ dài để ngôn ngữ, hành chính và tư duy Nho - Đạo ăn sâu vào gốc rễ.
Ở Triều Tiên, năm 108 TCN Hán Vũ Đế lập Hán Tứ Quận, và quận Lạc Lãng tồn tại đến năm 313, hơn 4 thế kỷ, làm bàn đạp để văn hóa Hán lan xuống Cao Câu Ly, Bách Tế, Tân La.
Nguyên nhân thứ ba là lựa chọn chiến lược của giới tinh hoa bản địa. Khi đã giành độc lập, giới cầm quyền 2 nước đối mặt với bài toán sinh tồn khốc liệt là làm sao để không bị Trung Quốc thôn tính lần nữa. Họ chọn đồng hóa về thể chế để bảo vệ độc lập về lãnh thổ, xây dựng một "Trung Hoa thu nhỏ".
Việt Nam mở khoa thi đầu tiên năm 1075 dưới thời Lý Nhân Tông, hệ thống khoa cử phát triển dần về sau và được duy trì đến năm 1919. Triều Tiên có khoa cử từ năm 958 dưới thời vua Quang Tông của Cao Ly, theo đề nghị của sứ giả Hán Lâm viện nhà Hậu Chu, và nó trở thành trung tâm của giáo dục suốt triều đại Triều Tiên. Khi chứng minh mình cũng là quốc gia "văn hiến", hiểu Lễ Nghĩa Nho gia không kém Trung Nguyên, 2 nước khiến triều đình Trung Quốc mất cớ "khai hóa man di" để đem quân xâm lược. Việc chấp nhận hệ thống sách phong và triều cống, làm chư thần trên danh nghĩa nhưng làm vua thực tế trong nước, giúp giữ hòa hiếu với đế chế phương Bắc.
Nhưng Nho giáo không độc tôn ngay khi 2 nước có chính quyền riêng. Dưới triều Lý và Trần, Phật giáo được suy tôn thành quốc giáo và dung hợp với Nho giáo, Đạo giáo theo tinh thần "Tam giáo đồng nguyên", và phải đến thời Lê sơ (từ năm 1428 đến năm 1527) Nho giáo mới thành hệ tư tưởng chính thống với chủ trương "dương Nho, ức Phật". Ở Cao Ly, Phật giáo mạnh hơn Nho giáo rất nhiều và chùa chiền nắm nhiều ruộng đất. Triều Tiên (từ năm 1392 đến năm 1910) theo nhà Minh, đưa Tân Nho giáo thành hệ tư tưởng chính của giới học giả và quan lại, và đến đầu thế kỷ 17 nó thay thế mọi mô hình khác của nhà nước.
Nguyên nhân thứ tư là chữ Hán, hệ điều hành tư tưởng độc quyền của Đông Á cổ đại, vì đó là phương tiện duy nhất để ghi chép tri thức, luật pháp, y học và lịch sử. Việt Nam và Triều Tiên chưa có chữ viết ghi âm riêng trong giai đoạn đầu, còn chữ Nôm và Hangul ra đời rất muộn và chỉ dùng song song hoặc bị sĩ phu coi thường. Muốn quản lý nhà nước, đọc sách y, học binh pháp, làm luật pháp, giới tinh hoa bắt buộc phải học chữ Hán, và học chữ Hán là đương nhiên hấp thụ toàn bộ thế giới quan Nho giáo và lịch sử Trung Hoa đi kèm với ngôn ngữ ấy.
________________________________________
DI SẢN NHO GIÁO TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Chế độ phong kiến đã sụp đổ và các quốc gia đều hiện đại hóa, nhưng tinh thần Nho giáo không mất đi mà đổi lớp áo bên ngoài để tiếp tục vận hành. Nó biến hình ở công sở, trong gia đình, trong quan hệ giới và trong sĩ diện xã hội.
Tại công sở, tinh thần trung với vua dịch chuyển sang các tổ chức hiện đại. Theo mô hình chỉ số văn hóa của Geert Hofstede, Trung Quốc đạt 80 và Việt Nam đạt 70 trên chỉ số Khoảng cách quyền lực (Power Distance Index), thuộc nhóm cao, nghĩa là người lao động ngầm chấp nhận bất bình đẳng quyền lực như một lẽ tự nhiên (8).
Ở nhiều công ty, mô hình quản trị mang nặng tính gia trưởng: sếp là người cha, nhân viên là con cái, và tranh luận thẳng thắn với cấp trên thường bị coi là láo, thiếu tôn trọng. Văn hóa tăng ca không lương, nhậu gượng ép hay nghe lời sếp vô điều kiện là biến thể của nghĩa vụ phục tùng bề trên, còn lối tư duy "vì cái chung mà cá nhân phải hy sinh" thường bị lạm dụng để ép cá nhân im lặng trước bất công.
Trong gia đình, quyền lực trực tiếp của cha mẹ thời xưa biến thành thao túng cảm xúc bằng chữ hiếu. Con cái bị đặt lên vai gánh nặng biết ơn vô hình, không được chọn ngành học, nghề nghiệp hay người bạn đời mình thích, làm trái ý cha mẹ thì bị gán nhãn bất hiếu, ích kỷ, và nhiều bậc cha mẹ vẫn xem con là bản sao nối dài của mình, bắt con thực hiện những giấc mơ dở dang của họ.
Các nhà tâm lý học đã tách khái niệm này thành 2 loại. Năm 2003, Yeh Kuang-Hui và Olwen Bedford đề xuất Mô hình hiếu đạo kép (9), phân biệt hiếu đạo tương hỗ (yêu thương, chăm sóc, biết ơn) với hiếu đạo uy quyền (phục tùng, hy sinh định hướng cá nhân vì cha mẹ). Hiếu đạo uy quyền gắn với mức tự chủ cá nhân thấp.
Phụ nữ ngày nay đi làm, có thu nhập độc lập, nhưng định kiến "Tam tòng tứ đức" vẫn trói họ dưới hình thức mới: vừa phải giỏi kiếm tiền như đàn ông, vừa gánh phần lớn việc nhà, chăm con, phụng dưỡng bố mẹ chồng, và nhà cửa bộn bề hay con học kém thì lỗi đổ lên đầu người mẹ, người vợ.
Trọng nam khinh nữ cũng biến tướng. Tư tưởng "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại", tức trong 3 điều bất hiếu thì không có con nối dõi là lớn nhất, tạo áp lực sinh con trai khủng khiếp, và quyền thừa kế đất đai ở nhiều nơi vẫn mặc định ưu tiên con trai.
Tỷ số giới tính khi sinh bình thường là 103 đến 107 bé trai trên 100 bé gái. Trung Quốc đạt đỉnh 121,18 năm 2004 rồi giảm xuống 113,51 năm 2015 theo Ủy ban Y tế - Kế hoạch hóa gia đình Quốc gia, và 111,3 trong Tổng điều tra dân số lần thứ 7 năm 2020, nhưng vẫn cao hơn mức bình thường (10). Việt Nam đạt khoảng 112 sau năm 2010 và 111,5 trong tổng điều tra năm 2019 do Tổng cục Thống kê và UNFPA công bố (11). UNFPA xác định nguyên nhân chính là chọn lọc giới tính theo hướng thiên vị con trai nhờ công nghệ xác định giới tính ngày càng dễ tiếp cận, và gốc rễ nằm ở sự phân biệt đối xử ăn sâu với phụ nữ và trẻ em gái (11).
Mô hình làng xã Nho giáo xưa lấy miệng lưỡi thế gian làm thước đo đạo đức, nay biến thành văn hóa sĩ diện và so sánh xã hội. Con cái trở thành "mặt mũi" của cha mẹ, bị ép học miệt mài, thi trường top, kiếm nhiều tiền không chỉ vì con mà để có cái khoe với họ hàng, hàng xóm.
Người chọn sống độc thân, không sinh con hoặc thuộc cộng đồng LGBT chịu áp lực khủng khiếp từ gia đình và dòng họ vì bị coi là làm mất mặt dòng tộc, không có người nối dõi tông đường.
Thế hệ trẻ Đông Á đang bị giằng xé. Một bên là các giá trị hiện đại tiếp thu từ phương Tây như tự do cá nhân, bình đẳng, quyền tự quyết và tinh thần phản biện. Bên kia là sự níu kéo của Nho giáo biến tướng với trật tự thứ bậc, phục tùng gia trưởng và sĩ diện họ hàng. Ở Việt Nam, xu hướng né về quê ăn Tết của giới trẻ là một biểu hiện của sự giằng xé đó.
Ở Trung Quốc, tháng 4 năm 2021 Luo Huazhong đăng trên diễn đàn Baidu Tieba bài viết "Nằm phẳng là chính nghĩa" và Tang ping (nằm phẳng) nhanh chóng thành hiện tượng của giới trẻ, những người chọn buông bỏ cuộc đua thay vì chống lại hệ thống thứ bậc khắt khe từ bên trong (12). Cơ quan quản lý internet ra lệnh hạn chế nghiêm ngặt các bài về chủ đề này và bài gốc của Luo bị xóa. Truyền thông nhà nước gọi nằm phẳng là đáng xấu hổ (13), và tháng 10 năm 2021 một bài của Tập Cận Bình trên tạp chí Cầu Thị kêu gọi tránh "nội quyển" và "nằm phẳng" (14).
________________________________________
NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Luận Ngữ và Mạnh Tử, cùng bản Mạnh Tử tiết văn thời Minh Thái Tổ
(2) Bạch hổ thông nghĩa (thời Đông Hán)
(3) Chú giải Tứ Thư của Chu Hi và lời của Trình Di
(4) Tạp chí Thanh niên (Tân Thanh niên) của Trần Độc Tú
(5) Bàn luận về tục bó chân của Trương Bang Cơ (sau năm 1148)
(6) Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ
(7) Hiến pháp 17 điều của Thái tử Shotoku (năm 604)
(8) Geert Hofstede, mô hình chỉ số văn hóa (Khoảng cách quyền lực)
(9) Yeh Kuang-Hui và Olwen Bedford (2003), Mô hình hiếu đạo kép
(10) Ủy ban Y tế - Kế hoạch hóa gia đình Quốc gia Trung Quốc (qua Giới Diện, 2016) và Tổng điều tra dân số lần thứ 7 của Trung Quốc (2020), số liệu tỷ số giới tính khi sinh
(11) Tổng cục Thống kê Việt Nam và UNFPA, tổng điều tra năm 2019 và các báo cáo về tỷ số giới tính khi sinh
(12) Bài "Nằm phẳng là chính nghĩa" của Luo Huazhong trên Baidu Tieba (tháng 4 năm 2021)
(13) Bài bình luận của Tân Hoa Xã về nằm phẳng (tháng 5 năm 2021)
(14) Bài của Tập Cận Bình trên tạp chí Cầu Thị (tháng 10 năm 2021)

Nhận xét
Đăng nhận xét