VÌ SAO ĐỨC LIÊN TỤC SẢN SINH CÁC HỆ TƯ TƯỞNG CẢI TẠO XÃ HỘI

 VÌ SAO ĐỨC LIÊN TỤC SẢN SINH CÁC HỆ TƯ TƯỞNG CẢI TẠO XÃ HỘI

Châu Âu, và nhất là Đức, nhiều lần trở thành nơi khai sinh các hệ tư tưởng nhằm cải tạo toàn bộ xã hội, từ chủ nghĩa Mác đến các trào lưu cánh tả cực đoan ngày nay mà nhiều người nhìn nhận là quái dị. Đây không phải hiện tượng ngẫu nhiên.

________________________________________

HAI TRUYỀN THỐNG TRIẾT HỌC ĐỐI LẬP

Đức từ lâu là trung tâm triết học của phương Tây, nhưng cách tư duy của người Đức khác hẳn người Anh và người Mỹ. Truyền thống Anh và Mỹ là chủ nghĩa kinh nghiệm và thực dụng, với John Locke, David Hume, Adam Smith và Edmund Burke là những tên tuổi tiêu biểu. Locke coi trí tuệ con người khi sinh ra là một tờ giấy trắng (Tabula Rasa), mọi tri thức tích lũy từ quan sát và kinh nghiệm. Hume hoài nghi cả những suy diễn vượt khỏi kinh nghiệm, Burke đề cao truyền thống và các thể chế tích lũy qua thời gian, còn Smith đề cao thị trường tự phát. Điểm chung là họ bắt đầu từ thực tế và dữ liệu, và nếu một lý thuyết không chạy được ngoài đời thì vứt lý thuyết đó đi.

Từ nền tảng ấy sinh ra sự hoài nghi trí tuệ (Epistemic Humility): không ai đủ thông minh để hiểu hết hay điều khiển toàn bộ xã hội. Các thể chế tốt nhất như pháp luật, thị trường tự do và truyền thống không do một cá nhân hay nhóm trí thức thiết kế, mà là kết quả của quá trình thử, sai và điều chỉnh qua hàng trăm năm. Vì biết con người dễ tha hóa khi nắm quyền lực tuyệt đối, họ hiện thực hóa tư tưởng tam quyền phân lập của Montesquieu, triết gia Pháp, trong Tinh thần pháp luật (1748) thành cơ chế kiểm soát và cân bằng (checks and balances) của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, đồng thời tôn trọng tự do cá nhân và thị trường (5).

Truyền thống Đức là chủ nghĩa duy tâm và lãng mạn, với Kant, Fichte và Hegel. Giới trí thức tin vào sự kiêu ngạo của lý trí (Rationalist Arrogance): thông qua logic trừu tượng, họ có thể thấu hiểu toàn bộ quy luật lịch sử. Ở đây ý niệm và lý thuyết có trước, còn thực tế chỉ là thứ thô lậu cần sửa cho khớp với lý thuyết. Khi một triết gia Đức nghĩ ra mô hình xã hội trên giấy và thấy nó hoàn hảo về mặt logic, mà đời sống thực lại mâu thuẫn với mô hình, họ không cho rằng lý thuyết sai. Họ cho rằng xã hội và con người đang phạm sai lầm, và cần dùng quyền lực hoặc cách mạng văn hóa để ép thực tế tuân theo.

Karl Marx, người Đức, tự xác định mình là nhà duy vật và đảo ngược phép biện chứng duy tâm của Hegel sang nền tảng vật chất, lao động và quan hệ sản xuất. Nhưng ông vẫn kế thừa phương pháp biện chứng và lối tư duy xây dựng mô hình hệ thống của Hegel để tạo ra chủ nghĩa cộng sản. Karl Popper, trong The Open Society and Its Enemies xuất bản năm 1945, phê phán Plato, Hegel và Marx như những nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa toàn trị (3).

Cả chủ nghĩa Mác - Lênin ở cực tả lẫn chủ nghĩa Quốc xã ở cực hữu đều mang cùng xung lực muốn quy hoạch lại nhân loại theo một lý tưởng độc đoán.

Hai truyền thống nhìn xã hội khác nhau tận gốc. Anh và Mỹ coi con người là bất toàn, có giới hạn và dễ tha hóa, coi xã hội là khu vườn sinh thái cần chăm sóc và tỉa cành, nên đi đến dân chủ phân quyền, thị trường tự do và pháp trị, đem lại ổn định, thịnh vượng và tự do dài hạn. Đức coi con người là thứ có thể cải tạo để trở nên hoàn hảo, coi xã hội là cỗ máy cần tháo ra lắp lại từ đầu, nên đi đến nhà nước tập quyền và kế hoạch hóa, và liên tục gây ra khủng hoảng, độc tài và thảm họa xã hội.

________________________________________

TRƯỜNG PHÁI FRANKFURT VÀ CÁCH MẠNG VĂN HÓA

Tư tưởng cánh tả phương Tây chuyển hướng mạnh trong thế kỷ 20, và nơi khởi nguồn của sự chuyển hướng này là Trường phái Frankfurt tại Đức. Viện Nghiên cứu Xã hội (Institut für Sozialforschung) được thành lập tại Frankfurt năm 1923, và Max Horkheimer trở thành giám đốc viện vào khoảng năm 1930. Khái niệm Lý thuyết Phê phán (Critical Theory) được Horkheimer nêu trong một bài viết năm 1937 (6, 7).

Theodor Adorno, Max Horkheimer và Herbert Marcuse nhận ra rằng tầng lớp công nhân sẽ không làm cách mạng kinh tế nữa. Họ chuyển sang cách mạng văn hóa, đặt mục tiêu phê phán và phá bỏ toàn bộ các giá trị truyền thống của phương Tây, gồm gia đình, tôn giáo, bản sắc dân tộc và thẩm mỹ cổ điển.

Khi Đức Quốc xã lên cầm quyền, viện bị đóng cửa. Horkheimer đưa viện sang Geneva rồi tái lập tại Đại học Columbia năm 1934, còn Adorno sang Mỹ năm 1938. Adorno và Horkheimer trở về Frankfurt năm 1949 (6, 7).

Khi các học giả này tản mát sang các đại học Mỹ và Châu Âu, họ gieo mầm cho toàn bộ trào lưu cánh tả cực đoan, culture war và woke culture ngày nay. Nước Đức nhờ đó trở thành công xưởng xuất khẩu các lý thuyết cách mạng văn hóa cho toàn thế giới.

________________________________________

MẶC CẢM LỊCH SỬ VÀ PHẢN ỨNG THÁI QUÁ

Sau thảm họa Holocaust và Thế chiến II, xã hội Đức bước vào quá trình đối diện, xử lý và rút bài học từ quá khứ Quốc xã trên các mặt xã hội, chính trị, pháp lý và văn hóa, gọi là Vergangenheitsbewältigung. Song hành với nó là khủng hoảng danh tính và mặc cảm tội lỗi tập thể. Giới trí thức Đức bị ám ảnh rằng bất cứ thứ gì liên quan đến chủ nghĩa dân tộc, trật tự, bản sắc, biên giới hay truyền thống đều là mầm mống của phát-xít.

Để chứng minh với thế giới rằng Đức đã hoàn toàn hối cải và không bao giờ quay lại làm kẻ ác, giới chính trị và trí thức Đức buộc mình trở thành kẻ thánh thiện cực đoan.

Vì sợ bị coi là phân biệt chủng tộc, Đức mở cửa đón làn sóng người tị nạn. Ngày 4/9/2015, Thủ tướng Angela Merkel cho phép số người tị nạn đang mắc kẹt tại Hungary vào Đức mà không áp dụng Quy chế Dublin, trên cơ sở nhân đạo (10). Năm 2015 có khoảng 890.000 người tị nạn đến Đức và 476.649 đơn xin tị nạn được nộp. Năm 2016 có 745.545 đơn, một phần là hồ sơ tồn đọng từ năm 2015, còn số người thực tế đến Đức trong năm đó khoảng 280.000 (8, 9, 10).

Vì sợ bị coi là cường quyền hay độc tài, giới chính trị thả lỏng pháp luật và dung dưỡng các hành vi vi phạm trật tự công cộng dưới danh nghĩa nhân đạo.

Vì sợ bị coi là bảo thủ, họ tiên phong áp dụng các thử nghiệm xã hội mới nhất về giới tính và danh tính, đồng thời giải cấu trúc văn hóa dân tộc để chứng minh mình không vị kỷ quốc gia.

Vì muốn chứng minh mình đang cứu thế giới, Đức sẵn sàng phá hủy nền kinh tế công nghiệp của chính mình bằng chính sách năng lượng xanh cực đoan, đến mức đóng cửa những lò phản ứng hạt nhân cuối cùng vào tháng 4/2023 (17).

________________________________________

TÔN GIÁO THẾ TỤC HÓA

Nước Đức là quê hương của cuộc Cải cách Kháng Cách do Martin Luther khởi xướng năm 1517. Tinh thần Kitô giáo Bắc Âu và Đức mang hai đặc trưng cốt lõi là sự cuồng nhiệt về đạo đức và tâm lý tội lỗi nguyên thủy. Max Weber, trong Đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, đã chỉ ra đạo đức Tin Lành, nhất là Calvin giáo, định hình kỷ luật và tinh thần kinh doanh của xã hội hiện đại như thế nào (4).

Cánh tả quái dị phương Tây thực chất là một tôn giáo cải đạo không có Chúa. Khi xã hội phương Tây quay lưng với Giáo hội và trở nên vô thần, nhu cầu tâm linh không mất đi mà được gán sang các tư tưởng chính trị. Khái niệm tội lỗi nguyên thủy biến thành tội lỗi da trắng, tội lỗi đế quốc thực dân và tội lỗi tàn phá hành tinh. Khái niệm chờ đợi ngày tận thế và cứu rỗi biến thành cứu rỗi bằng chống biến đổi khí hậu, bằng đa văn hóa và bằng xóa bỏ biên giới.

Các tư tưởng cực đoan như woke vận hành giống hệt một tôn giáo cuồng tín. Ai không tuân theo bị coi là kẻ dị giáo và bị tẩy chay, thiêu sống bằng cancel culture.

________________________________________

ĐỊA CHÍNH TRỊ VÀ NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI

Đức nằm ngay tâm điểm Châu Âu (Mitteleuropa) và trong lịch sử không có biên giới tự nhiên vững chắc như đảo quốc Anh hay nước Mỹ được bảo vệ bởi hai đại dương. Họ luôn bị kẹp giữa Đông và Tây, giữa các đế chế. Sự bất an địa chính trị này tạo ra tâm lý dồn nén mạnh mẽ, khiến người Đức luôn khao khát một sứ mệnh vĩ đại hoặc một giải pháp toàn cục để giải quyết triệt để mọi mâu thuẫn xung quanh.

Lịch sử cho thấy Đức nhiều lần đi từ thái cực này sang thái cực khác, từ chủ nghĩa quân phiệt Phổ đến chủ nghĩa Quốc xã, và ngày nay là chủ nghĩa cấp tiến, woke và xanh cực đoan nhất Châu Âu nhằm chuộc lỗi.

Thêm vào đó là một xã hội bị nuông chiều quá lâu. Nhiều quốc gia Tây Âu, đặc biệt là Đức và Bắc Âu, đã trải qua hàng thập kỷ thịnh vượng kinh tế, được Mỹ bảo hộ an ninh qua NATO và có hệ thống phúc lợi xã hội quá tốt. Khi con người không còn phải lo về ăn mặc, chỗ ở hay an ninh mạng sống hằng ngày, họ bắt đầu sản sinh ra các nhu cầu lý tưởng hóa vô thực như tranh cãi về đại từ xưng hô, biến đổi khí hậu siêu thực và xóa bỏ biên giới quốc gia. Đó là sự tách rời khỏi thực tế đời sống của người dân bình thường.

________________________________________

NGHỊCH LÝ CỦA NƯỚC ĐỨC: GIỎI KỸ THUẬT, SAI LẦM TRONG CHÍNH TRỊ

Nước Đức thành công rực rỡ trong cơ khí, ô tô, hóa chất và quản trị công nghiệp nhờ tư duy kiến tạo. Với máy móc và tự nhiên, tư duy logic, tỉ mỉ, chia nhỏ vấn đề và áp đặt một thiết kế hoàn hảo từ trên xuống cho kết quả chính xác tuyệt đối.

Sai lầm chết người của các triết gia Đức là áp nguyên vẹn tư duy kỹ thuật này vào con người và xã hội. Họ coi xã hội như một cỗ máy khổng lồ, coi con người như những bánh răng, và tin rằng giới trí thức có thể thiết kế ra một hệ thống hoàn hảo để bắt mọi người vận hành theo. Nhưng xã hội con người vận hành dựa trên tâm lý, cảm xúc, tri thức phân tán và lợi ích cá nhân, nên việc kỹ thuật hóa xã hội luôn dẫn đến tư tưởng độc tài, cực đoan hoặc thảm họa thực tế. Sự ngớ ngẩn trong triết học Đức thực chất là sự ngạo mạn của trí tuệ: tin thái quá rằng bộ óc con người có thể thiết kế được một xã hội hoàn hảo trên giấy.

Friedrich Hayek, người gốc Áo, làm việc tại London School of Economics từ năm 1931 và nhận giải Nobel Kinh tế năm 1974 (15, 16), đã tóm gọn vấn đề này trong cuốn sách cuối cùng của ông, The Fatal Conceit, xuất bản năm 1988: “Nhiệm vụ kỳ lạ của kinh tế học là chỉ cho con người thấy họ thực sự biết ít đến mức nào về những gì họ tưởng mình có thể thiết kế.” (1)

Một nguyên nhân khác là thiếu cơ chế trả giá cho sai lầm. Thomas Sowell, trong Intellectuals and Society xuất bản năm 2009, lập luận rằng giới trí thức hiếm khi phải gánh hậu quả của các ý tưởng sai (2). Một kỹ sư Đức thiết kế sai cây cầu thì cầu sập, ông ta mất việc hoặc đi tù, vì sai lầm phải trả giá ngay bằng tiền bạc và sinh mạng. Một triết gia đưa ra ý tưởng chính trị sai lầm thì không phải chịu hậu quả trực tiếp, và ngay cả khi lý thuyết gây thảm họa, họ vẫn viết sách và giảng dạy tại đại học.

Ở lĩnh vực kỹ thuật, thực tế kiểm chứng lý thuyết. Ở lĩnh vực triết học chính trị, khi thực tế đi chệch thì họ vẫn khẳng định lý thuyết tuyệt vời, còn thảm họa là do con người chưa đủ trình độ để đáp ứng lý thuyết. Việc không phải trả giá cá nhân tạo môi trường cho các triết gia tự do nhào nặn những tư tưởng ngông cuồng và xa rời thực tế nhất.

Lịch sử Đức còn có sự đứt gãy sâu sắc giữa hai tầng lớp. Một bên là kỹ sư và thương nhân của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ Mittelstand, những người làm việc thực tế, đối mặt với thị trường, cạnh tranh sòng phẳng và tạo ra sự thịnh vượng kinh tế thực sự. Bên kia là giáo sư và triết gia ngành khoa học nhân văn (Geisteswissenschaften), được nhà nước bảo hộ, sống trong các viện hàn lâm khép kín và khinh thường tư bản thị trường lẫn công việc kinh doanh thực dụng. Vì rảnh rỗi và thoát khỏi thực tế kinh tế, họ dành toàn bộ thời gian phát minh ra các đại tự sự (Grand Narratives) nhằm tái cấu trúc nhân loại.

Cuối cùng là bệnh cuồng từ ngữ và logic trừu tượng. Triết học Đức, từ Hegel, Marx đến Habermas, nổi tiếng khó hiểu, dài dòng và ngập thuật ngữ. Màn sương ngôn ngữ ấy khiến ý tưởng trông sâu sắc và khoa học, người bình thường khó lòng phản bác, nên những tư tưởng ngớ ngẩn nhất vẫn được khoác chiếc áo trí tuệ vĩ đại và truyền tụng qua nhiều thế hệ.

________________________________________

ĐÔNG Á VÀ CON ĐƯỜNG THỰC DỤNG

Khi tiếp thu tư duy phương Tây, các nhà lãnh đạo Đông Á chủ động gạt bỏ các đại tự sự bay bổng của triết học Đức, tiếp thu có chọn lọc và ưu tiên tính thực dụng, đo lường bằng kết quả và sự hoài nghi lý thuyết suông của trường phái Anh và Mỹ. Nhờ giữ được sự tỉnh táo đó, họ tạo nên những kỳ tích kinh tế, duy trì xã hội ổn định từ nửa sau thế kỷ 20 đến nay, và tránh được cái bẫy của những cuộc chiến văn hóa cực đoan cùng các thực nghiệm xã hội mà Châu Âu lục địa từng và đang phải gánh chịu.

Singapore là đỉnh cao của chủ nghĩa thực dụng. Lý Quang Diệu, thủ tướng từ năm 1959 đến năm 1990, trong một cuộc phỏng vấn với tờ International Herald Tribune tháng 8/2007 đã nói: “Chúng tôi là những người thực dụng. Chúng tôi không bám vào bất kỳ hệ tư tưởng nào. Nó có hiệu quả không? Hãy thử, nếu có hiệu quả thì tốt, hãy tiếp tục. Nếu không hiệu quả thì vứt bỏ, thử cái khác.” (11) Singapore xây dựng bộ máy hành chính dựa trên tinh thần meritocracy, tức đánh giá theo năng lực, và chính sách dựa trên bằng chứng thực tế, coi quản trị quốc gia là bài toán giải quyết vấn đề thực tế chứ không phải sân khấu cho các cuộc diễn thuyết triết học.

Nhật Bản, sau thất bại thảm hại trong Thế chiến II vì đi theo chủ nghĩa phát-xít và quân phiệt cực đoan, đã rũ bỏ các tư tưởng cuồng tín để học mô hình thực dụng của Mỹ. Năm 1950, Hiệp hội Các nhà khoa học và kỹ sư Nhật Bản (JUSE) mời W. Edwards Deming sang giảng về kiểm soát chất lượng bằng thống kê, và về sau lập giải thưởng mang tên ông (12).

Triết lý Kaizen, tức cải tiến liên tục, thể hiện rõ chủ nghĩa kinh nghiệm. Thay vì các cuộc cách mạng tái cấu trúc quy mô lớn trên giấy, người Nhật quan sát thực tế tại xưởng sản xuất (Gemba), phát hiện sai sót nhỏ và sửa chữa liên tục mỗi ngày, học từ thực tế bằng thử và sai.

Việt Nam trước năm 1986 gặp nhiều khó khăn khi áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang tính lý thuyết cứng nhắc. Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 15 đến 18/12/1986, với lời kêu gọi của Tổng Bí thư Trường Chinh: “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” (13, 14). Đại hội kiểm điểm nghiêm khắc sự lãnh đạo của Đảng, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần (13). Về sau mô hình này hình thành nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối phát triển của Việt Nam nhấn mạnh lý luận phải gắn liền với thực tiễn, và mô hình nước ngoài dù hay đến đâu, nếu không phù hợp với thực địa Việt Nam thì cũng phải điều chỉnh. Trong đối ngoại, Việt Nam chọn hợp tác dựa trên lợi ích quốc gia và dân tộc chứ không dựa trên sự trùng hợp về hệ tư tưởng.

________________________________________

NGUỒN TÀI LIỆU

(1) Friedrich Hayek, The Fatal Conceit: The Errors of Socialism (1988)

(2) Thomas Sowell, Intellectuals and Society (2009)

(3) Karl Popper, The Open Society and Its Enemies (1945)

(4) Max Weber, Đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản

(5) Montesquieu, Tinh thần pháp luật (1748)

(6) Stanford Encyclopedia of Philosophy, mục Critical Theory (Frankfurt School)

(7) Goethe-Institut, bài về Trường phái Frankfurt nhân dịp 100 năm thành lập Viện Nghiên cứu Xã hội

(8) Cục Di cư và Người tị nạn Liên bang Đức (BAMF), Migrationsbericht 2015

(9) Trung tâm Giáo dục Chính trị Liên bang Đức (bpb), số liệu về đơn xin tị nạn và người tìm kiếm tị nạn

(10) Qantara, Five years on: how has Germany's refugee policy fared?

(11) International Herald Tribune, phỏng vấn Lý Quang Diệu, tháng 8/2007 (bản lưu của Cục Lưu trữ Quốc gia Singapore)

(12) ASQ và Trường Kinh doanh Columbia (Deming Center), tiểu sử W. Edwards Deming

(13) Cổng thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, Giai đoạn 1986-2003: Mười tám năm sự nghiệp đổi mới

(14) Báo Tuổi Trẻ, loạt bài Đại hội VI - Bước ngoặt lịch sử 30 năm trước (đăng lại trên Pháp Luật TP.HCM)

(15) Centre for Civil Society, bài về Hayek nhân ngày sinh của ông (Spontaneous Order)

(16) Competitive Enterprise Institute, Twenty Years without Hayek

(17) World Nuclear News, A guide: The end of Germany's nuclear power



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bàn về phạm trù Thiện - ác - Hoàng Văn Thuận

Francis Bacon (1561 - 1626) - một trong những người sáng lập triết học Cận đại

Thuật dùng người của Hàn Phi Tử