Bài đăng

NHỮNG VẾT NỨT TRONG TÂM HỒN

Hình ảnh
 NHỮNG VẾT NỨT TRONG TÂM HỒN Trong một gia đình, có những cách dạy con được truyền từ đời này sang đời khác. Người lớn từng được dạy phải nghe lời, không được cãi lại, phải cố gắng để cha mẹ nở mày nở mặt; khi trở thành cha mẹ, họ có thể tiếp tục áp dụng những nguyên tắc ấy với con mình. Qua thời gian, điều từng được xem là khuôn phép trong một thế hệ có thể trở thành áp lực đối với thế hệ tiếp theo. Gia đình là nơi những chuẩn mực về cách sống, cách ứng xử và quan niệm đúng sai được truyền lại. Nhưng cùng với những giá trị tốt đẹp, một số cách đối xử gây tổn thương cũng có thể được duy trì, đơn giản vì người ta đã quen với chúng và tin rằng đó là cách nuôi dạy con đúng đắn. Vì sao có những người từng chịu tổn thương trong tuổi thơ lại vô tình lặp lại cách đối xử ấy khi trưởng thành? Và điều gì giúp một người nhận ra rằng những gì mình từng trải qua không nhất thiết phải tiếp tục trở thành trải nghiệm của thế hệ sau? 1. Một lời mắng, hai cách hiểu Hãy hình dung một đứa trẻ thường x...

MAX STIRNER VÀ CUỘC GIẢI PHÓNG CÁ NHÂN KHỎI NHỮNG Ý NIỆM THỐNG TRỊ

Hình ảnh
MAX STIRNER VÀ CUỘC GIẢI PHÓNG CÁ NHÂN KHỎI NHỮNG Ý NIỆM THỐNG TRỊ Con người có thực sự tự do khi phải hy sinh bản thân cho những lý tưởng mà mình xem là cao cả? Giữa thế kỷ XIX, nhà triết học Đức Max Stirner đặt ra câu hỏi gây tranh cãi này, đồng thời cảnh báo về những ý niệm do con người tạo ra nhưng dần trở thành quyền lực chi phối chính họ. Trớ trêu thay, tư tưởng của ông được lưu truyền rộng rãi hơn những gì hậu thế biết chắc chắn về diện mạo của chính ông. Max Stirner là bút danh của Johann Kaspar Schmidt (1806–1856), một nhà triết học thuộc giới Hegel trẻ ở Berlin. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Der Einzige und sein Eigentum (Cái duy nhất và sở hữu của nó), xuất bản cuối năm 1844, mang năm xuất bản 1845 và thường được biết đến bằng tên tiếng Anh The Ego and Its Own. Cuốn sách thách thức nhiều quan niệm nền tảng của thời đại, từ tôn giáo, đạo đức đến nhà nước và các lý tưởng chính trị. Stirner đặt câu hỏi về những khái niệm vốn do con người tạo ra nhưng có thể được xem như chân...

RỜI XA THẾ GIAN HAY SỐNG GIỮA THẾ GIAN? TỪ THÍCH MINH TUỆ, TRẦN NHÂN TÔNG, MAHATMA GANDHI ĐẾN CÁC TU SĨ CÔNG GIÁO

RỜI XA THẾ GIAN HAY SỐNG GIỮA THẾ GIAN? TỪ THÍCH MINH TUỆ, TRẦN NHÂN TÔNG, MAHATMA GANDHI ĐẾN CÁC TU SĨ CÔNG GIÁO Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền Có báu trong nhà thôi khỏi kiếm Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền. (Cư Trần Lạc Đạo phú, Trần Nhân Tông, xin xem thêm tại trang thơ thivien.net) Một câu hỏi vượt khỏi ranh giới tôn giáo  Liệu con người có cần rời xa thế gian để đạt được tự do nội tâm, hay có thể sống giữa thế gian mà không bị những ràng buộc của nó chi phối? Đây không chỉ là câu hỏi dành cho người xuất gia, mà còn là vấn đề căn bản của đời sống con người. Trong một xã hội hiện đại ngày càng nhiều tiện nghi, tiện lợi con người vẫn có thể bị trói buộc bởi ham muốn, danh vọng, sự công nhận và nỗi sợ mất mát, tức là danh, lợi, thú. Tôi nghĩ về Thích Minh Tuệ, Trần Nhân Tông, Mahatma Gandhi đến các tu sĩ Công giáo, những con đường sống khác nhau đều gợi ra một câu hỏi chung: con người cần từ bỏ điều gì để thực sự tự do? Thích Minh Tuệ: sự từ bỏ trong xã hội t...

NGHIỆP DUYÊN VỢ CHỒNG

Hình ảnh
 NGHIỆP DUYÊN VỢ CHỒNG Dân gian gọi những cuộc gặp gỡ khó lý giải là duyên phận, Phật giáo bàn về nhân duyên và nghiệp, còn khoa học tìm hiểu vì sao hai người bị thu hút và gắn bó với nhau. Dù tin vào cách lý giải nào, hạnh phúc hôn nhân vẫn phụ thuộc rất nhiều vào cách hai người đối xử với nhau trong hiện tại. Trong đời người, có những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ nhưng để lại dấu ấn sâu đậm. Hai người xa lạ nảy sinh tình cảm, cùng xây dựng gia đình rồi trải qua năm tháng vui buồn. Có cặp đôi càng sống càng thấu hiểu, cũng có người từng yêu nhau sâu sắc nhưng cuối cùng vẫn không thể đi chung một con đường. Người Việt từ lâu đã dùng những cách nói như “có duyên có nợ”, “nợ duyên” hay “duyên tiền định” để diễn tả những mối quan hệ khó lý giải. Có người vừa gặp đã cảm thấy thân thuộc, trong khi những người khác dù cố gắng vẫn khó tìm được tiếng nói chung. Từ đó, nhiều người tin rằng vợ chồng có thể đã gắn bó với nhau từ những kiếp trước. Nhưng cảm giác thân quen có đủ để chứng minh ...

KINH DỊCH VÀ TỨ TRỤ – GIỮA DI SẢN TƯ TƯỞNG VÀ NIỀM TIN VỀ VẬN MỆNH

Hình ảnh
 KINH DỊCH VÀ TỨ TRỤ – GIỮA DI SẢN TƯ TƯỞNG VÀ NIỀM TIN VỀ VẬN MỆNH Di sản cổ xưa có thể giúp con người suy ngẫm về cuộc sống, nhưng những lời khẳng định về khả năng dự đoán tương lai vẫn cần được kiểm chứng. Vì sao có người tài giỏi nhưng cuộc đời nhiều trắc trở, trong khi người bình thường lại gặp thuận lợi và thành công? Từ lâu, con người đã tìm cách lý giải những khác biệt như vậy. Kinh Dịch và Tứ Trụ là hai hệ thống truyền thống thường được viện dẫn khi bàn về quy luật biến đổi và số phận con người. Kinh Dịch dùng các quẻ để diễn giải sự vận động của hoàn cảnh; Tứ Trụ dựa vào năm, tháng, ngày, giờ sinh để luận về tính cách và vận mệnh. Cả hai đều có lịch sử lâu dài trong văn hóa phương Đông, nhưng giá trị tư tưởng và văn hóa của chúng cần được phân biệt với những tuyên bố rằng chúng có thể dự đoán chính xác tương lai. 1. Kinh Dịch và cách nhìn về sự biến đổi Kinh Dịch hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ, gắn với tư tưởng triết học, chính trị và văn hóa Trung Hoa cổ đại....

NHO GIÁO TỪ PHƯƠNG THUỐC CỨU LOẠN ĐẾN BỘ KHUNG CAI TRỊ CỦA ĐÔNG Á

Hình ảnh
 NHO GIÁO TỪ PHƯƠNG THUỐC CỨU LOẠN ĐẾN BỘ KHUNG CAI TRỊ CỦA ĐÔNG Á ________________________________________ NHO GIÁO RA ĐỜI TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA THỜI XUÂN THU - CHIẾN QUỐC Nho giáo ra đời ở Trung Quốc vào giai đoạn Xuân Thu - Chiến Quốc, khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 3 TCN, và là sản phẩm phản ứng trực tiếp với cuộc khủng hoảng toàn diện nhất của lịch sử Trung Hoa thời kỳ đó. Khổng Tử sống từ năm 551 đến năm 479 TCN, Mạnh Tử từ khoảng năm 372 đến năm 289 TCN. Cả hai đều chứng kiến trật tự cũ tan rã. Nho giáo không thể ra đời sớm hơn. Thời Tây Chu, trật tự xã hội vận hành bằng hệ thống tông pháp (dòng họ) và phong kiến (chia đất phong cho chư hầu), mọi người sống theo thứ bậc huyết thống tự nhiên và quyền lực trung ương nhà Chu còn mạnh. Khi trật tự ổn định và chạy tốt, con người chưa có nhu cầu sáng tạo một hệ tư tưởng mới để đi tìm trật tự. Đến thời Xuân Thu nhà Chu suy yếu, chư hầu xâu xé nhau, "Lễ hỏng nhạc tàn", vua bị tước quyền, tôi giết vua, con giết cha, đời sống rơi ...

C. G. JUNG VÀ GIỚI HẠN CỦA VIỆC HIỂU CON NGƯỜI

Hình ảnh
 C. G. JUNG VÀ GIỚI HẠN CỦA VIỆC HIỂU CON NGƯỜI Tri thức tâm lý có thể giúp ta nhìn sâu hơn vào đời sống tinh thần. Nhưng hiểu một người không có nghĩa là tìm được lời giải thích cho mọi hành vi của họ. 1. Phía sau những gì ta nhìn thấy  Carl Gustav Jung (1875–1961), nhà tâm thần học người Thụy Sĩ và người sáng lập trường phái tâm lý học phân tích, dành nhiều tâm huyết nghiên cứu vô thức, giấc mơ và những mâu thuẫn trong đời sống nội tâm. Một khái niệm quan trọng trong tư tưởng của ông là cá thể hóa (individuation), quá trình con người dần nhận biết và dung hòa những phương diện khác nhau của bản thân để hướng tới một đời sống tâm lý toàn vẹn hơn. Điều này đòi hỏi mỗi người đối diện cả với những phần mình khó chấp nhận hoặc chưa hiểu rõ, thay vì chỉ giữ lại hình ảnh tốt đẹp về chính mình. Từ góc nhìn ấy, ta có thể nhận ra rằng những biểu hiện bên ngoài chưa chắc đã phản ánh đầy đủ đời sống bên trong. Người ít nói chưa hẳn lạnh lùng; người luôn tỏ ra mạnh mẽ có thể đang che giấ...