Bài đăng

Phân tâm học (Psychoanalysis)

Phân tâm học (Psychoanalysis) 1. Sự ra đời và các giai đoạn của Phân tâm học Phân tâm học do S. Freud (1856 - 1939), bác sỹ người Ao, sáng lập. Những công trình đầu tiên của Freud bàn về sinh lý học, giải phẩu học não bộ. Từ những năm 80 dưới Ảnh hưởng của trường phái Pháp (Charcot, Bernheim) về thôi miên Freud tìm hiểu chứng rối loạn thần kinh chức năng (tâm thần). Những năm 90 Freud tập trung xây dựng phân tâm học - phương pháp dùng trị liệu tâm lý để chữa bệnh tâm thần. Phương pháp này căn cứ trên kỹ thuật liên tưởng tự do, phân tích những hành vi lầm lẫn và những giấc mơ như phương thức thâm nhập vào cõi vô thức, nghĩa là khu vực không chịu sự kiểm soát của ý thức. Vào năm 1900 Freud đưa ra học thuyết về cơ cấu bộ máy tâm lý như một hệ thống năng lượng mà cơ sở phát sinh của nó là xung đột giữa ý thức và những ham muốn vô thức. Vào năm 1920 Freud công bố công trình “Bản ngã và Bĩ ngã”, đồng thời từng bước vận dụng Phân tâm học vào tâm lý xã hội, lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật …Hai ...

Một số trường phái triết học khác từ nửa sau thế kỷ XX

Một số trường phái triết học khác từ nửa sau thế kỷ XX Trong nỗ lực tìm kiếm hướng nghiên cứu mới trong triết học phương Tây hình thành trào lưu hậu cấu trúc - hậu hiện đại, được hiểu như sự thoát ly rõ rệt khỏi các môtíp quen thuộc về phương pháp luận. 1. Tính chất liên thông của việc giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu, góp phần mở rộng hơn nữa lĩnh vực quan tâm của chính triết học. Trong ngôn ngữ thể hiện quá trình này diễn ra khá rầm rộ. Phản tỉnh triết học tự giải phóng mình khỏi các phương thức và cách thức tiếp cận truyền thống, hướng đến nguyên tắc phương pháp luận chung của khoa học nhân văn. Người ta dễ nhận ra xu hướng này thông qua sự đan xen, gặp gỡ giữa triết học với sử học, ngôn ngữ học và chính trị học. 2. Nguyên tắc giải thiết kế trong nghiên cứu bản văn; ý tưởng chủ đạo của nó là ở việc làm sáng tỏ mâu thuẫn bên trong của bản văn, ở việc tìm ra những “ẩn nghĩa” mà cả người đọc dễ dãi lẫn chính tác giả chưa hẳn phát hiện được. Nếu trong chú giải học luôn đòi hỏi...

W. James và chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để

W. James và chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để + Tín ngưỡng luận đặc trưng. James xem tín ngưỡng như một trong những tôn chỉ bền vững của đời sống xã hội, vì vậy ông chống chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa duy vật. Khái niệm về Thượng đế, theo James, có giá trị thiêng liêng, vì nó đảm bảo một trật tự thế giới lý tưởng và vĩnh hằng. “Nhu cầu về trật tự đạo đức thế giới là một trong những nhu cầu sâu xa nhất của trái tim”. Cơ sở của tín ngưỡng luận là chủ nghĩa kinh nghiệm: do chỗ “những chứng cứ của con tim”, lòng tin vào cái Tuyệt đối đem đến cho con người sự yên tâm và mãn nguyện, nên nó được chấp nhận. ”Chủ nghĩa thực dụng mở rộng môi trường chp sự tìm kiếm Thượng đế” (tr, 34-Mel. ). + Phương pháp dàn xếp các cuộc tranh cãi triết học. Phương pháp này thể hiện ở chỗ phải vạch ra xem việc tiếp nhận quan điểm này hay quan điểm khác có ý nghĩa gì đối với cuộc sống con người, nếu nó là quan điểm đúng đắn. Một lần nữa ý nghĩa của tranh luận khoa học đối với con người được nhấn mạnh. Chúng ta đ...

VỀ SỰ THỐNG NHẤT TÍNH ĐẢNG PHÁI VÀ TÍNH KHOA HỌC TRONG VIỆC TÌM HIỂU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

VỀ SỰ THỐNG NHẤT TÍNH ĐẢNG PHÁI VÀ TÍNH KHOA HỌC TRONG VIỆC TÌM HIỂU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 1. “Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa tinh thần của thời đại mình”, nhưng “không có tính đảng sẽ không có sự phát triển” Nêu ra hai trích dẫn ấy của K. Marx, chúng ta hiểu rằng, cần kết hợp một cách biện chứng cách tiếp cận thế giới quan và cách tiếp cận giá trị, cách tiếp cận tri thức và cách tiếp cận văn hóa trong việc đánh giá các học thuyết triết học trong lịch sử. Sự thống nhất tính đảng (tính đảng phái) và tính khách quan, chuẩn mực (tính khách quan – khoa học) trong việc xem xét các tư tưởng, học thuyết triết học trong lịch sử nhân loại đòi hỏi dựa vào cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, đồng thời nắm vững nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể, nhằm tránh sự áp đặt một cách võ đoán, chủ quan đối với lịch sử. Chủ nghĩa hư vô trong quan điểm lịch sử đồng nghĩa với sự dửng dưng đối với chính các vấn...

Tính tất yếu của sự thay đổi các chủ đề tư tưởng triết học

Tính tất yếu của sự thay đổi các chủ đề tư tưởng triết học Trong sự phát triển tư tưởng triết học, các chủ đề thường xuyên trải qua thay đổi, bổ sung, mở rộng nhằm lý giải một cách kịp thời các quá trình thực tiễn xã hội. Có những chủ đề tư tưởng hôm qua là chủ đạo, hôm nay chỉ còn đóng vai trò thứ yếu; ngược lại, cái mà hôm qua ở dạng phôi thai, thì hôm nay trở thành trung tâm, thành điểm nóng của sự tranh luận. Trong điều kiện chủ nghĩa phổ quát Kytô giáo thống trị vào thời trung cổ vấn đề con người hầu như không được quan tâm, bị hòa tan vào cái phổ quát bao trùm là sự tồn tại của Đấng tối cao. Cuộc tranh luận giữa duy danh luận và duy thực luận chỉ đơn giản xoay quanh tính xác thực của khái niệm “đơn nhất” và “phổ quát”. Song đến thời Phục hưng chủ đề tranh luận đã vượt qua khuôn khổ của hệ chuẩn tư duy trung cổ, mang đậm ý nghĩa của cuộc đấu tranh vì giá trị người, vì sự giải phóng con người cá nhân, thay thế từng bước thuyết thần là trung tâm (theocentrism) bằng th...

CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA ĐƯỜNG LỐI TRIẾT HỌC CỦA ĐÊMÔCRÍT VÀ ĐƯỜNG LỐI TRIẾT HỌC PLATÔN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA ĐƯỜNG LỐI TRIẾT HỌC CỦA ĐÊMÔCRÍT VÀ ĐƯỜNG LỐI TRIẾT HỌC PLATÔN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI -*- Tư tưởng triết học ra đời rất sớm ở Hy Lạp cổ đại, nhưng với tư cách là một hệ thống (một nền) triết học hoàn chỉnh, nó xuất hiện khoảng thế kỷ VII đến đầu thế kỷ VI tr.CN. Do sự phát triển của kinh tế, nên sự phân công lao động diễn ra khá sâu sắc. Điều này đã góp phần hình thành tầng lớp trí thức. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học nói chung và triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng. Chính cuộc đấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc đã là những điều kiện chính trị quan trọng cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng cũng như sự ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung. Cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học duy vật và duy tâm của Đêmôcrít với đường lối triết học duy tâm thần bí của Platôn là cuộc đấu tranh điển hình trong lịch sử triết học, thể hiện ở nhiều...

NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA L.PHOIƠBẮC (1804 – 1872)

L.Phoiơbắc (1804 – 1872), nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức. Ông sinh năm 1804 trong một gia đình luật sư nổi tiếng ở Đức. Ông đã theo học ở trường đại học tổng hợp Béclin, tham gia phái Hêghen trẻ. Về sau ông tách khỏi phái này, trở thành người phê phán Hêghen, xây dựng hệ thống triết học duy vật của mình. Các tác phẩm lớn của ông là Những nguyên lý của triết học tương lai (1843), Về bản chất đạo Cơ đốc... Ông là nhà triết học duy vật lỗi lạc trước Mác, là người đã khôi phục địa vị xứng đáng cho chủ nghĩa duy vật trước Mác. Triết học của ông là một trong những tiền đề lý luận trực tiếp của triết học Mác. Do một số tư tưởng vô thần chống lại giáo hội của ông, ông đã bị nhà nước Phổ giam lỏng ở một làng quê ở biên giới phía Đông nước Đức, tiếp giáp với biên giới Ba Lan từ lúc khoảng 32 tuổi đến cuối đời... Vấn đề trung tâm trong triết học của ông là vấn đề con người và về cơ bản ông giải quyết trên tinh thần duy vật. Nên triết học của ông được gọi là triết học nhân bản. Nó...