Rất nhiều người đời sau xem Khổng Tử như một chính trị gia, chính khách ôn hòa, không hề gây chiến ở đâu trong suốt sự nghiệp của mình. Tuy nhiên, như Václav Havel viết: “Machiavelli, nhà ngoại giao, triết học và nhà văn thời Phục hưng người Ý, thường được gọi là cha đẻ của triết học chính trị hiện đại hoặc khoa học chính trị. Ông quan niệm, lý thuyết chính trị như một công nghệ duy lý thực thi quyền lực. Hay chính trị là công nghệ cho các trò chơi quyền lực”. Do đó không một chính trị gia nào thực sự ôn hòa, những cái tên như Alexander, Tần Thủy Hoàng, Caesar, Thành Cát Tư Hãn, Napoleon, Hitler v.v… tất cả những người ấy đều là những chính khách, sau khi thâu tóm quyền lực họ liền khởi động kế hoạch khủng khiếp của chiến tranh hủy diệt, khác chăng là Khổng Tử chưa, hay không thể nắm đủ quyền lực để thực thi kế hoạch của mình.
Chính vì Khổng Tử là một cựu quý tộc thất thế, ông thấy rất rõ sự vượt trội của tầng lớp quý tộc được học hành tử tế nên tiếc về quá khứ mà nêu cao thuyết chính danh định phận, chủ trương Lễ trị, đề cao Tam cương, Ngũ thường và tư tưởng Thiên mệnh. Do đó, học thuyết của ông mang nặng tinh thần bảo hoàng, và như vậy chúng ta cũng không lạ gì bản thân Không Tử không quyền lực gì, nhưng học thuyết của ông vẫn được các triều đại tiếp thu, sử dụng. Chính vì vậy, giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng Khổng Tử là giáo dục, vì hơn ai hết ông biết thất học là một vấn nạn cho quốc gia, chủng tộc, sự ngu dốt vô học của khối dân đen khiến ông thấy cần phải có Lễ, khép vào khuôn khổ (trị) để thuần phục xã hội.
Khổng Tử đưa ra luận thuyết “Chính danh”, đề cao nền quân chủ là bằng chứng xác đáng sự hạn chế trong suốt lịch sử về khả năng dân chủ.
KT có rất nhiều đệ tử làm quan ở nước Vệ. Vệ quân muốn mời KT xử lý chính sự nước Vệ. Tử Lộ nói: “Vệ quân muốn mời thầy xử lý chính trị nước Vệ, thầy sẽ làm gì trước tiên?” KT nói: “Vậy ta nhất định sẽ chính danh”. Tử Lộ nói: “Có việc này sao? Thầy quá viễn vông không thực tế rồi. Danh phận phải thế nào mới chính đây?” KT nói: “Con thực quá thô lỗ rồi, Trọng Do! Danh phận không đoan chính thì lời nói ra không thuận, lời nói không thuận thì làm việc sẽ không thành; việc không thành thì lễ nhạc giáo hóa sao có thể thực thi, lễ nhạc giáo hóa không thể thực thi thì cân nhắc mức hình phạt không chuẩn xác, cân nhắc mức hình phạt không chuẩn xác thì dân chúng sẽ lóng ngóng. Quân tử làm việc nhất định phải phù hợp với danh phận, lời nói mới có thể thực hành. Quân tử đối với lời nói ra, không được một chút tùy tiện cẩu thả nào mới được”. (Sktmt, tr. 325, 326)
Tư tưởng của Khổng tử đã “chăm sóc” quá kỷ đến từng thành viên trong xã hội khiến nó bịt kín mọi con đường phát triển, nếu danh của họ không chính. “Sử Ký” của Tư Mã Thiên viết về việc Phạm Tăng khuyên Hạng Lương sử dụng thuyết chính danh:
Trần Thắng thất bại là điều không tránh khỏi. Tần diệt lục quốc, nước Sở vô tội nhất. Từ khi Sở Hoài vương bị lừa tới Tần liền không trở về, người nước Sở tới tận hôm nay vẫn còn tưởng nhớ. Vì thế Sở Nam công nói: “Người Sở chỉ còn ba nhà, thì diệt nước Tần cũng nhất định phải là nước Sở. Nay Trần Thắng khởi nghĩa, không lập đời sau của Sở mà tự lập làm vương, thế vận chẳng thể lâu dài. Nay người khởi binh ở Giang Ðông, tráng sĩ nước Sở nhiều như bầy ong tới theo người, chính là vì họ Hạng đời đời làm đại tướng nước Sở, nhất định sẽ lại ủng hộ lập con cháu Sở vương”. (Sktmt, tr.101)
Do lời khuyên này, Hạng Lương tìm đưa một người tên Tâm, đang chăn cừu, nhưng có huyết thống với vua Sở lên ngôi vua, lấy tập hiệu là Sở Hoài vương.
Thật lạ, công sức như Trần Thắng, khởi nghĩa chống Tần, vào sinh ra tử, chiến đấu gian khó, nhưng thành quả phải để người khác (người họ Sở) hưởng mới đúng sao? Chú cháu Hạng Lương – Hạng Vũ cũng vậy, dù đời đời làm tướng sở, nhưng khi khởi nghĩa chống Tần, tại sao “các tướng Sở khắp nơi nổi dậy tranh nhau về giúp ngài vì nghĩ rằng họ (Hạng) nhà ta đời đời làm tướng Sở thì có thể lập được ngôi cho hậu duệ vua Sở”.
Xã hội vốn tồn tại theo định luật tự nhiên: mạnh được yếu thua. Thuyết chính danh của Khổng Tử tưởng sẽ ủng hộ sự công bằng ấy, nhưng bản chất sự việc vẫn vậy, sự “chính danh” chỉ làm tăng thêm sự dối trá, mị dân.
Cái lòng hận rằng, chết mà không có tên tuổi ở đời là chí hướng của Nho gia. Văn để truyền đạo mà cũng để lưu danh.
Do đó, bọn võ biền, thích khách một thời hy vọng ảo vào “sát thân thành nhân”.
Nhận xét
Đăng nhận xét