POL POT: TỪ QUYỀN LỰC TUYỆT ĐỐI ĐẾN CÁI CHẾT TRONG RỪNG ANLONG VENG

POL POT: TỪ QUYỀN LỰC TUYỆT ĐỐI ĐẾN CÁI CHẾT TRONG RỪNG ANLONG VENG Quyền lực của Pol Pot không mất đi chỉ sau một đêm mà trải qua gần 20 năm tháo chạy, cố thủ và tan rã, kết thúc bằng cái chết trong rừng Anlong Veng ngày 15/4/1998. Bài viết đi theo dòng thời gian, từ nguồn gốc của Khmer Đỏ, cách chế độ này cai trị đến cuộc cố thủ ở biên giới Thái Lan, sự sụp đổ nội bộ. ________________________________________ TỪ PARIS ĐẾN CÁNH ĐỒNG CHẾT: KHMER ĐỎ HÌNH THÀNH VÀ CAI TRỊ RA SAO Khmer Đỏ là sự hội tụ cực đoan của tâm lý dân tộc bị tổn thương, chiến tranh tàn phá và một học thuyết giáo điều. Nỗi hoài niệm về đế chế Angkor cùng mặc cảm yếu thế trước các nước láng giềng và Pháp sinh ra chủ nghĩa dân tộc cực đoan, muốn chứng minh người Khmer tự làm nên kỳ tích mà không cần bất kỳ ai. Chiến tranh Việt Nam tràn sang Campuchia. Mỹ ném bom Campuchia từ năm 1965 đến năm 1973, khoảng 500.000 tấn trong giai đoạn 1969 đến 1973, làm chết từ 50.000 đến 150.000 người theo ước tính của nhà sử học Ben Kiernan. Một đánh giá của CIA vào tháng 5/1973 ghi nhận Khmer Đỏ dùng thiệt hại do các đợt ném bom B-52 làm chủ đề chính của tuyên truyền. Sau khi Sihanouk bị lật đổ năm 1970, chính quyền Lon Nol bất lực và tham nhũng, thanh niên nông dân nghèo trở thành lực lượng dễ bị chiêu mộ và thao túng. Nhóm lãnh đạo hình thành tư tưởng ở Paris. Saloth Sar, tức Pol Pot, sang Pháp năm 1949 theo học bổng ngành vô tuyến điện, thi trượt 3 năm liên tiếp và về nước vào tháng 1/1953. Cùng nhóm có Ieng Sary học Sciences Po, Son Sen học sư phạm và Khieu Samphan lấy bằng tiến sĩ kinh tế, tất cả sinh hoạt trong vòng nghiên cứu Marxist khép kín của sinh viên Khmer. Nghịch lý là lớp lãnh đạo từng du học phương Tây lại tàn sát trí thức của cả một dân tộc. Họ tự coi mình là kiến trúc sư của một xã hội cộng sản nông nghiệp hoàn hảo, nơi con người chỉ là viên gạch, và tiêu diệt thứ tri thức khác với tư tưởng của mình vì nông dân mù chữ như tờ giấy trắng, dễ nhồi sọ và sẵn sàng tuân lệnh. Khmer Đỏ là một dạng cộng sản cực đoan thuộc phổ cánh tả, chịu ảnh hưởng nặng của chủ nghĩa Mao. Chế độ coi năm 1975 là Năm Số Không, xóa bỏ tiền tệ, thị trường, đô thị, trường học, tôn giáo và sở hữu tư nhân, với các đặc điểm điển hình của phong trào cánh tả cực đoan: chủ nghĩa không tưởng, giáo điều được thần thánh hóa, tập thể đè bẹp cá nhân, nỗi ám ảnh về kẻ thù bí mật, biến lương thực và bạo lực thành công cụ quản lý. Không phải phong trào cánh tả nào cũng như vậy, và Khmer Đỏ là trường hợp cực đoan nhất. Ngày 17/4/1975, Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh và đem học thuyết đó ra thực hiện, dồn hơn 2 triệu dân đô thị về nông thôn và chia dân số thành Người Cũ (nông dân nghèo) và Người Mới (dân thành thị bị coi là tư sản tha hóa). Quyền lực thuộc về Angkar (Tổ chức), với Pol Pot là Anh Số 1 và Nuon Chea là Anh Số 2, vận hành không cần luật pháp hay sổ sách mà bằng các đội sản xuất do thanh niên nông dân mù chữ chỉ huy bằng lệnh miệng và tiếng còi. Tiền tệ và thương mại bị xóa bỏ, lương thực bị tịch thu rồi phát lại qua các nhà ăn tập thể, một dạng bao cấp siêu cực đoan, vì bao cấp thông thường vẫn còn tiền, tem phiếu và bếp riêng. Nắm bát cháo duy nhất, cán bộ kiểm soát sự sống chết mà không cần cảnh sát: ai bị coi là lười biếng hay phản động sẽ bị cắt suất ăn. Người dân lao động 12 đến 16 tiếng mỗi ngày với cháo loãng, còn đảng viên, quân nhân và cán bộ địa phương vẫn có khẩu phần đầy đủ giữa nạn đói do chính sách duy ý chí gây ra. Bộ máy vận hành bằng nỗi sợ dây chuyền. Khi sản lượng không đạt chỉ tiêu, Trung ương quy kết có gián điệp phá hoại, bắt cả ban lãnh đạo vùng hoặc huyện đưa về nhà tù Tuol Sleng (S-21) rồi cử cán bộ mới, thường tàn bạo hơn. Cán bộ cấp dưới càng tàn nhẫn càng chứng tỏ lòng trung thành, còn việc bị cắt liên lạc với bên ngoài khiến mỗi vùng chỉ thấy lệnh của Angkar mà không thấy toàn cảnh. S-21 do Kaing Guek Eav, biệt danh Duch, điều hành. Theo phán quyết của Tòa án Đặc biệt trong Tư pháp Campuchia (ECCC), ít nhất 12.272 tù nhân bị hành quyết trong hệ thống S-21, gồm cả Choeung Ek, sau khi bị tra tấn để nhận tội làm gián điệp cho CIA, KGB hoặc Việt Nam. Khi bị nhà báo Nate Thayer chất vấn năm 1997, Pol Pot thừa nhận mình ở vị trí đứng đầu nhưng nói chỉ đưa ra các quyết định lớn về các vấn đề lớn, và cho rằng Tuol Sleng là một cuộc trưng bày do Việt Nam dựng lên. Vụ thanh trừng Vùng Đông năm 1978 là ví dụ rõ nhất. Trung ương nghi lực lượng ở đây thân Việt Nam, gán cho khoảng 1,5 triệu dân nhãn "thân xác Khmer, đầu óc Việt Nam" rồi đưa quân vào tiêu diệt. Từ 100.000 đến 250.000 người bị giết trong 6 tháng cuối năm 1978, và tướng So Phim, bí thư Vùng Đông, tự sát vào đầu tháng 6/1978. Chấp hành mệnh lệnh không đem lại an toàn. Theo nhiều lời kể, ngất xỉu ngoài đồng, giấu một con cá hay khóc thương người thân đều có thể bị coi là chống đối, còn xuất thân dân thành thị, từng đi học, hoặc là người gốc Việt hay người Chăm là đủ để nằm trong danh sách thanh trừng. Trong khi đòi hỏi dân chúng tuân phục tuyệt đối dưới vỏ bọc lý tưởng thuần khiết, chính bộ máy này cướp bóc và trục lợi ở nhiều cấp, khi lính Khmer Đỏ lấy đồng hồ, xe cộ và của cải của người bị đuổi khỏi thành phố và một phần không nhỏ bị binh lính, cán bộ chiếm giữ thay vì nộp về Trung ương. Angkar xử tử người bị coi là dâm ô hay ngoại tình, nhưng lại tổ chức kết hôn cưỡng bức hàng loạt, có lễ cưới cho hơn 100 cặp cùng lúc, và dân quân được lệnh giám sát các cặp đôi ban đêm để bảo đảm họ quan hệ tình dục. Năm 2018, ECCC lần đầu kết tội cưỡng bức kết hôn và hiếp dâm trong bối cảnh kết hôn cưỡng bức là tội ác chống lại loài người. Các nhà nghiên cứu còn ghi nhận nhiều vụ hãm hiếp do cán bộ thực hiện để hành hạ và bịt miệng phụ nữ. Hệ quả của cách cai trị này là một thảm họa nhân mạng khổng lồ. Tổng số người chết được ước tính từ 1,5 đến 2 triệu người, khoảng một phần năm đến một phần tư dân số, trong đó có ít nhất 500.000 người bị giết có chủ ý, số còn lại chết vì đói, kiệt sức và bệnh tật. Khmer Đỏ giết theo các chiến dịch phân loại đối tượng chứ không ngẫu nhiên. Nhóm đầu tiên là người của chế độ cũ và giới trí thức: cựu quan chức, binh lính và sĩ quan thời Lon Nol, bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, sinh viên, nghệ sĩ. Người biết ngoại ngữ, thậm chí chỉ đeo kính, cũng có thể bị thủ tiêu. Người Mới là nhóm thứ hai, bị dồn vào lao động nặng nhọc nhất và bị đưa vào danh sách thanh trừng đầu tiên mỗi khi thiếu lương thực. Người Campuchia gốc Việt bị truy quét, trục xuất hoặc tàn sát trên quy mô rất lớn vì tư tưởng dân tộc cực đoan bài Việt Nam. Vào tháng 5/1978, đài Phnom Penh tuyên bố rằng nếu mỗi binh sĩ Campuchia giết 30 người Việt thì chỉ cần 2 triệu quân là đủ tiêu diệt toàn bộ 50 triệu dân Việt Nam. Người Chăm theo Hồi giáo bị cưỡng ép bỏ tôn giáo và cấm nói tiếng dân tộc, 150.000 người Chăm ở bờ đông sông Mekong bị buộc phân tán đi nơi khác, và các cộng đồng kháng cự bị thảm sát hàng loạt. Chùa chiền bị phá hủy hoặc biến thành kho chứa, nhà thờ Ki-tô giáo cũng bị phá, phần lớn nhà sư bị cưỡng ép hoàn tục hoặc bị sát hại. Nạn nhân không chỉ là nam giới trưởng thành. Theo khẩu hiệu "Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc", khi một người đàn ông bị kết tội phản động, cả gia đình thường bị hành quyết cùng lúc để không ai còn lại mà trả thù. Tại Choeung Ek và S-21 đã khai quật vô số hộp sọ của phụ nữ và trẻ em, và có ghi nhận trẻ sơ sinh bị nắm chân đập vào thân cây trước khi bị ném xuống hố chôn tập thể. Phần lớn nạn nhân chết gián tiếp. Phụ nữ mang thai hay sinh con trong tình trạng suy dinh dưỡng nặng gần như đồng nghĩa với án tử cho cả mẹ lẫn con, còn trẻ em chết hàng loạt vì thiếu sữa, sốt rét, tiêu chảy và không có thuốc chữa. Với những người bị giết có chủ ý, Khmer Đỏ để tiết kiệm đạn nên bịt mắt, trói tay nạn nhân dẫn đến các hố chôn tập thể tại các Cánh đồng Chết, rồi đánh vào gáy bằng cuốc, xẻng, gậy sắt, rìu, còn cuống lá thốt nốt có răng cưa được dùng để cứa cổ. Tại S-21, tù nhân bị chích điện, dìm nước và ép ký những lời thú tội dựng lên. Đứng sau những con số đó là những kẻ trực tiếp ra tay, phần lớn là nông dân và thanh thiếu niên bình thường, nhiều em ở độ tuổi 12 đến 18, chưa từng đi học. Trước hết nạn nhân bị phi nhân hóa: họ bị gọi là cỏ dại, vi trùng, kẻ thù của cách mạng, và binh lính bị nhồi những khẩu hiệu như "Giữ lại không được lợi gì, diệt đi không mất gì" và "Thà giết nhầm một người vô tội còn hơn tha nhầm một kẻ thù". Trách nhiệm bị phân mảnh: người ra lệnh không trực tiếp giết, kẻ trực tiếp giết tự trấn an rằng mình chỉ là công cụ của Angkar và biết rằng ngập ngừng sẽ khiến cả gia đình mình bị kết tội phản bội. Binh lính đi từng bước, từ canh gác, tịch thu tài sản, đánh đập rồi mới giết người, và sự lặp lại hằng ngày khiến họ chai sạn cảm xúc. Nhà nhân học Alexander Hinton, trong cuốn Why Did They Kill? Cambodia in the Shadow of Genocide, chỉ ra yếu tố văn hóa: khái niệm kum, tức mối hận thù dồn nén, và mô hình trả thù không cân xứng, trong đó kẻ thù bị nghiền nát hoàn toàn, thậm chí đến cả dòng họ. Khi Khmer Đỏ trao quyền lực và súng cho thanh niên nông dân mang sẵn nỗi căm hờn giai cấp với dân thành thị, những khái niệm này bị kích hoạt. Thói quen tuân phục quyền lực trong xã hội Khmer truyền thống cũng được chuyển thẳng sang Angkar khi Phật giáo và bộ máy cũ bị xóa bỏ. Những kẻ ra tay không sinh ra đã là quỷ dữ, mà là những người bình thường bị một hệ thống tư tưởng cực đoan thao túng, đe dọa tính mạng và đẩy vào một quy trình biến đổi hành vi. ________________________________________ SỰ HẬU THUẪN QUỐC TẾ VÀ CUỘC CỐ THỦ SAU NĂM 1979 Chế độ ấy không tồn tại được lâu. Sau khi thi hành chính sách tàn bạo trong nước, Pol Pot liên tục cho quân tấn công vùng biên giới Tây Nam của Việt Nam. Cuối tháng 12/1978, Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia mở cuộc phản công toàn diện, và ngày 7/1/1979, liên quân tiến vào Phnom Penh. Đại đa số dân Campuchia xem đây là sự giải thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Chế độ sụp đổ nhanh vì bộ máy rỗng ruột, quân đội rệu rã, kinh tế kiệt quệ, dân chúng thù hận, còn giới lãnh đạo bị chính các cuộc thanh trừng làm cho hoang tưởng và đứt gãy chuỗi chỉ huy. Pol Pot cùng bộ sậu tháo chạy về vùng biên giới phía Tây giáp Thái Lan, mất vai trò quản lý nhà nước và trở thành lực lượng du kích. Ông ta coi đó chỉ là một bước lùi chiến thuật, giống những năm 1963 đến 1975 sống trong rừng, và không chọn con đường lưu vong. Rời bỏ đất nước để sống nhờ một quốc gia khác bị ông ta coi là đầu hàng, còn việc công khai đón một nhân vật bị cả thế giới lên án vì tội diệt chủng cũng là điều khó có nước nào muốn làm. Các nhà nghiên cứu mô tả Pol Pot là một kẻ cuồng tín tư tưởng chứ không phải một chính khách thực dụng thông thường. Ông ta không bao giờ nhìn nhận thực tế suy vong hay tội ác diệt chủng do mình gây ra, và lý tưởng của ông ta dựa trên tàn sát, bài ngoại và ảo tưởng lịch sử chứ không phải trên tinh thần xây dựng hay nhân văn. Trung Quốc viện trợ vũ khí và tiền bạc cho Khmer Đỏ và dùng Thái Lan làm tuyến chuyển hàng vào rừng. Thế giới cộng sản khi đó chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam thân Liên Xô còn Pol Pot đứng về phía Trung Quốc, nên Bắc Kinh coi việc Việt Nam đánh Pol Pot là Liên Xô mở rộng ảnh hưởng xuống Đông Nam Á. Trung Quốc cần Khmer Đỏ cầm chân và tiêu hao lực lượng Việt Nam ngay tại biên giới, nên giữ Pol Pot trên chiến trường có giá trị chiến lược lớn hơn giữ ông ta ở Bắc Kinh. Thái Lan sợ rằng Việt Nam, sau khi thống nhất đất nước năm 1975 và có quân đội ở cả Lào lẫn Campuchia, sẽ tràn sang lãnh thổ mình. Họ coi tàn quân Khmer Đỏ ở biên giới như một vùng đệm, cho lập căn cứ sát hoặc vượt qua biên giới. Một bộ phận giới quân sự Thái còn thu lợi lớn từ việc mua gỗ quý và đá quý từ vùng do Khmer Đỏ kiểm soát. Theo nhiều ghi nhận, một phần lương thực và thuốc men trong viện trợ nhân đạo chuyển đến các trại tị nạn ở biên giới cũng bị Khmer Đỏ chiếm đoạt. Mỹ và các nước phương Tây sau thất bại ở Việt Nam coi Việt Nam và Liên Xô là đối thủ lớn nhất khu vực, và không muốn chính quyền do Việt Nam dựng ở Phnom Penh được quốc tế công nhận. Vì vậy ghế Campuchia tại Liên Hợp Quốc tiếp tục thuộc về Campuchia Dân chủ, tức chế độ Pol Pot, từ năm 1979, dù họ biết rõ tội ác diệt chủng. Năm 1982, Khmer Đỏ lập Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ với Sihanouk và Son Sann, và chính phủ liên hiệp này tiếp tục giữ ghế đó đến năm 1990. Sự hỗ trợ này xuất phát từ tính toán địa chính trị chống Việt Nam và Liên Xô, không phải từ việc ủng hộ tư tưởng cộng sản cực đoan của Khmer Đỏ. Pol Pot là một công cụ quân sự có giá trị, và sự ủng hộ tan rã khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và Việt Nam hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia năm 1989. Khmer Đỏ trụ lại ở biên giới gần 20 năm không phải vì bị để yên. Địa hình dãy núi Dângrêk với vách đá dựng đứng, rừng rậm và ít đường vào giúp lực lượng nhỏ bẻ gãy các đợt tấn công lớn. Mỗi khi bị vây quét mạnh, tàn quân rút sang phía Thái Lan, nơi quân Việt Nam và chính quyền Phnom Penh không thể truy kích vì sẽ gây xung đột trực tiếp với Thái Lan. Chiến dịch mùa khô 1984 đến 1985 của Việt Nam và quân đội Phnom Penh phá hầu hết các căn cứ kháng chiến dọc biên giới, kể cả tổng hành dinh Khmer Đỏ ở Phnom Malai, buộc Pol Pot chạy sang Thái Lan. Năm 1985, ông ta chính thức nghỉ chức nhưng vẫn là người đứng đầu thực tế. Tuy nhiên, phía đối thủ không thể giữ lực lượng đóng chốt mãi trên các đỉnh núi, và phòng tuyến K5 với các bãi mìn dọc biên giới trong giai đoạn 1985 đến 1989 cũng không dứt điểm được lực lượng này. Cuộc kháng chiến ngày càng yếu vì Khmer Đỏ mất hoàn toàn lòng dân. Khác với du kích thông thường vốn như cá bơi trong nước, họ không có tân binh tự nguyện mà chỉ có thể cưỡng ép bắt bớ, nên tinh thần chiến đấu rất thấp. Lực lượng đi theo Pol Pot không phải một khối đồng nhất. Nhóm đông nhất đi theo vì sợ: bộ máy tuyên truyền loan tin quân Việt Nam sẽ tiêu diệt sạch bất kỳ ai từng sống hay làm việc dưới chế độ, và nhiều lính cấp thấp, du kích, cán bộ xã và huyện sợ bị nạn nhân hoặc chính quyền mới trả thù nên chạy theo lãnh đạo vào rừng như một bản năng sinh tồn. Nhóm thứ hai là dân thường bị cưỡng ép. Khmer Đỏ lùa một số lượng lớn dân thường đi theo để làm lao động, tân binh dự bị và lá chắn người, và ai có ý định bỏ trốn bị coi là kẻ phản bội, có thể bị tử hình. Nhóm thứ ba, chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng nắm quyền, thực sự muốn tiếp tục chiến đấu: các sĩ quan và lãnh đạo cuồng tín như Ta Mok, biệt danh Đồ tể, chỉ huy quân sự, và Son Sen, Bộ trưởng Quốc phòng, lực lượng bảo vệ nòng cốt của Pol Pot, một số thanh niên bị nhồi sọ nhiều năm về chủ nghĩa bài ngoại, và những kẻ biết mình là tội phạm diệt chủng nên buông súng là bị truy tố. ________________________________________ ANLONG VENG, CĂN CỨ CUỐI CÙNG CỦA KHMER ĐỎ Căn cứ cuối cùng là Anlong Veng, nay là một huyện của tỉnh Oddar Meanchey, nằm trên dãy Dângrêk sát biên giới Thái Lan. Đây không phải lựa chọn ngẫu nhiên. Khmer Đỏ từng dùng vùng núi Dângrêk làm căn cứ du kích trong cuộc chiến chống Lon Nol nên thông thuộc địa hình, và ở đây họ chỉ cần lùi ra biên giới là thoát khỏi truy kích. Sau khi Việt Nam rút quân năm 1989, Khmer Đỏ dựng lại các căn cứ cũ trong vùng, và Anlong Veng trở thành thủ phủ thực tế của họ. Anlong Veng không phải một khu rừng hoang mà là một cộng đồng khép kín. Theo ước tính của Nate Thayer năm 1997, khoảng 60.000 người sống dưới quyền kiểm soát của Ta Mok quanh khu vực này, gồm binh lính cùng vợ con, cha mẹ và cả dân thường sống dưới sự kìm kẹp, cung cấp lương thực và lao động cho lực lượng phiến quân. Ta Mok, người chỉ huy vùng này, biến Anlong Veng thành lãnh địa riêng. Ông ta bán gỗ quý sang Thái Lan, dùng tiền thu về mua lòng trung thành của thuộc hạ, xây đường xá, bệnh viện, trường học, và cho đào một hồ nhân tạo cạnh dinh thự hai tầng của mình. Đời sống ở đây trải qua hai giai đoạn. Ngay sau năm 1979, tàn quân trong vùng sống trong lán trại dã chiến giữa rừng, chịu sốt rét, mìn và thiếu lương thực, nhiều người bỏ mạng. Khi nguồn tiền từ gỗ chảy về, nhà sàn kiên cố, đường xá và hàng tiêu dùng từ Thái Lan thay thế dần những lều lán ban đầu. Dù vật chất khá lên, đời sống tinh thần ngột ngạt. Binh lính và dân thường không được tự do di chuyển, không có thông tin từ bên ngoài và sống trong hoài nghi, sợ hãi vì các cuộc thanh trừng nội bộ. Khoảng cách giữa giới chỉ huy có dinh cơ, vệ sĩ và tiện nghi nhập từ Thái Lan với những binh lính, dân thường sống đơn sơ, thiếu y tế, ngày càng lớn, trái ngược hoàn toàn với khẩu hiệu bình đẳng mà Khmer Đỏ từng tuyên truyền. ________________________________________ SỰ TAN RÃ TỪ NĂM 1989 ĐẾN CÁI CHẾT CỦA POL POT Từ năm 1989, viện trợ quốc tế cho Khmer Đỏ bị cắt giảm mạnh và lý do chống Việt Nam mà họ dùng để xin ủng hộ không còn. Khmer Đỏ từ chối tham gia tiến trình hòa bình do Liên Hợp Quốc bảo trợ (UNTAC) và không dự cuộc bầu cử năm 1993, khiến phong trào ngày càng cô lập. Năm 1994, chính phủ ban hành luật cấm tổ chức này. Chính phủ Hoàng gia Campuchia, trong đó Hun Sen giữ vai trò chủ chốt, vừa truy quét quân sự vừa chiêu hàng, cam kết ân xá và cho phép lính ra hàng giữ lại tài sản, chức vụ và đất đai. Về sau, chính sách này được gọi là chính sách cùng thắng (win-win). Nó đánh trúng tâm lý mệt mỏi vì chiến tranh của binh lính Khmer Đỏ, những người vốn đã bị nhồi sọ và cưỡng ép suốt nhiều năm. Tháng 8/1996, Ieng Sary, người kiểm soát vùng Pailin giàu đá quý và rừng gỗ, thương lượng ra hàng chính phủ. Thỏa thuận hoàn tất ngày 14/9/1996 với sắc lệnh ân xá của Quốc vương Sihanouk. Khoảng một nửa quân Khmer Đỏ, ước tính 10.000 người, chuyển sang phía chính phủ, và phong trào mất đi nguồn thu chính. Đêm 9 rạng 10/6/1997, Pol Pot ra lệnh cho lính cận vệ thân tín xả súng giết Bộ trưởng Quốc phòng Son Sen tại Anlong Veng, cùng vợ ông là Yun Yat, cựu Bộ trưởng Thông tin, và ít nhất 9 người thân. Theo các quan chức chính phủ Campuchia, thi thể bị xe tải cán qua. Pol Pot nghi ngờ Son Sen bí mật đàm phán đầu hàng với phía Hun Sen, và hành động trong trạng thái hoảng loạn, hoang tưởng bị phản bội. Vụ việc diễn ra ban đêm tại khu nhà riêng của Son Sen, biệt lập giữa rừng trong một mạng lưới trại phân tán trên diện tích rất rộng, nơi không có phương tiện liên lạc và không ai được đi lại tự do giữa các trại. Nhưng vụ giết người không giấu được lâu. Ngày 10/6/1997, Khieu Samphan công bố Son Sen và Yun Yat bị bắt vì làm gián điệp cho Hun Sen và Việt Nam. Một Bộ trưởng Quốc phòng cùng cả gia đình biến mất khiến các chỉ huy còn lại nhận ra không ai an toàn dưới sự kiểm soát của Pol Pot. Ta Mok biết mình là mục tiêu tiếp theo, và nhờ có lực lượng đông hơn, ông ta huy động quân bao vây và lùng bắt Pol Pot. Pol Pot cùng một nhóm cận vệ chạy vào rừng nhưng bị bắt sau ít ngày. Ngày 25/7/1997, Ta Mok cho dàn dựng một phiên tòa nhân dân công khai ngay tại Anlong Veng, có nhà báo Nate Thayer của tờ Far Eastern Economic Review chứng kiến. Thayer tin rằng phiên tòa được tổ chức riêng để gửi ra thế giới thông điệp rằng Pol Pot đã bị chối bỏ. Phiên tòa kéo dài khoảng 80 phút ngoài trời, những người từng là đồng chí của ông ta hô đả đảo Pol Pot cùng bè lũ. Pol Pot già yếu, được người dìu, ngồi im lặng gần như rơi nước mắt. Ông ta bị kết án chung thân và quản thúc tại chỗ vì tội giết Son Sen cùng gia đình và âm mưu giết Ta Mok, còn Khmer Đỏ loại trừ việc trao ông ta cho tòa án quốc tế. Đây thực chất là bước phế truất hoàn toàn: Pol Pot bị tước sạch quyền lực và trở thành một tù nhân bị cách ly cho đến khi chết. Trong 9 tháng cuối đời, Pol Pot sống trong một căn nhà sàn đơn sơ với người vợ thứ hai là Mea Son và cô con gái Sar Patchata khoảng 12 tuổi, bị lực lượng của Ta Mok canh giữ. Ông ta ốm nặng và từng bị đột quỵ năm 1995. Tháng 10/1997, ông ta nhận lời phỏng vấn Nate Thayer, lần phỏng vấn đầu tiên với báo chí nước ngoài sau 18 năm. Ông ta kiên quyết không nhận lỗi, khẳng định "Lương tâm tôi trong sạch" và cho rằng mọi việc mình làm đều vì đất nước và nhân dân. Sau một đợt tấn công mới của quân chính phủ, Ta Mok rút chạy vào rừng sâu sát biên giới Thái Lan và mang Pol Pot theo như một tù nhân. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đưa tin Khmer Đỏ đồng ý trao Pol Pot cho một tòa án quốc tế. Trong đêm 15/4/1998, ông ta chết ở tuổi 72 trong căn nhà nhỏ giữa rừng. Khmer Đỏ tuyên bố ông ta chết vì suy tim và từ chối yêu cầu khám nghiệm tử thi. Tháng 1/1999, Nate Thayer đưa tin trên tạp chí Far Eastern Economic Review rằng ông ta chết do dùng quá liều hỗn hợp Valium và chloroquine, tức tự sát, nhưng nguyên nhân chính xác chưa từng được xác minh độc lập. Cũng có những nghi ngờ rằng chính thuộc hạ đã cho ông ta uống thuốc độc để bịt đầu mối trước khi ông ta bị đưa ra tòa. Các nhà báo quốc tế được đến chụp ảnh thi thể. Ngày 17/4/1998, lúc 10 giờ sáng, thi thể Pol Pot được thiêu cách chòi của ông ta khoảng 10 mét, trên một đống lốp xe cũ và rác, chỉ có vợ con và một số ít cận vệ đứng nhìn. Không có lễ truy điệu. Tro được vùi trong một hố đất nhỏ, phía trên chỉ có một mái tôn. Khmer Đỏ tan rã hoàn toàn sau đó. Tháng 12/1998, Nuon Chea và Khieu Samphan ra hàng chính phủ. Ngày 6/3/1999, Ta Mok bị quân đội Campuchia bắt gần biên giới Thái Lan, và ông ta chết năm 2006 trong một bệnh viện quân y ở Phnom Penh khi chưa bị xét xử. ________________________________________ DI SẢN PHÁP LÝ VÀ XÃ HỘI CAMPUCHIA SAU KHMER ĐỎ Do chết năm 1998, Pol Pot chưa từng bị xét xử. ECCC, một tòa án hỗn hợp do Liên Hợp Quốc phối hợp với chính phủ Campuchia thành lập và đi vào hoạt động năm 2006 tại Phnom Penh, tập trung vào các thủ lĩnh cao nhất còn sống. Duch bị Hội đồng xét xử tuyên 30 năm tù vào năm 2010, và bản án bị tăng lên chung thân ở phiên phúc thẩm năm 2012. Nuon Chea, nhân vật quyền lực số 2 sau Pol Pot và là nhà tư tưởng của Khmer Đỏ, cùng Khieu Samphan, cựu Chủ tịch nước Campuchia Dân chủ, bị kết án chung thân năm 2014 về tội ác chống lại loài người. Ngày 16/11/2018, hai người bị kết án chung thân lần nữa, lần này với tội diệt chủng đối với người gốc Việt, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người. Riêng Nuon Chea còn bị kết tội diệt chủng người Chăm, và ông ta chết ngày 4/8/2019. Ieng Sary, cựu Phó Thủ tướng phụ trách ngoại giao, chết năm 2013 trong lúc bị xét xử. Vợ ông ta là Ieng Thirith, cựu Bộ trưởng Xã hội, được hoãn xét xử vì không đủ năng lực tham gia phiên tòa và chết năm 2015. Ngày 22/9/2022, Hội đồng phúc thẩm của ECCC giữ nguyên bản án chung thân với Khieu Samphan, và bản án đầy đủ được công bố ngày 23/12/2022, khép lại hoạt động xét xử của tòa. Nhiều nạn nhân cho rằng như vậy chưa đủ, vì hàng vạn kẻ trực tiếp ra tay ở cấp xã và huyện không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và các vụ 003, 004 bị đình trệ vì áp lực chính trị trong nước. Tuy nhiên, họ coi việc tòa án công nhận lịch sử chính thức là một sự an ủi. Nạn nhân, thủ phạm và con cháu của cả hai bên ngày nay sống chung trên cùng một mảnh đất. Nhiều người sống sót, nay đã cao tuổi, không quên nỗi đau nhưng chấp nhận sống hòa bình bên cạnh những người từng là du kích Khmer Đỏ, một phần vì triết lý Phật giáo về buông bỏ và nhân quả, một phần vì muốn giữ ổn định cho con cháu. Nhiều cựu binh cấp thấp, nhất là ở các vùng cựu căn cứ như Pailin và Anlong Veng, sống như nông dân bình thường. Đa số bày tỏ hối hận nhưng tự biện hộ rằng mình chỉ là mắt xích bị ép buộc, vì không tuân lệnh giết người thì chính họ và gia đình sẽ bị thủ tiêu. Họ ít khi chủ động kể cho con cháu nghe về những việc đã làm trong giai đoạn 1975 đến 1979. Thế hệ sinh sau năm 1979 lớn lên trong một thời gian dài khi lịch sử Khmer Đỏ chỉ được dạy lướt qua hoặc không được dạy, để tránh đào sâu mâu thuẫn xã hội, nên nhiều người từng không tin cha mẹ mình đã trải qua giai đoạn tàn bạo đến vậy. Giáo trình đầu tiên do người Campuchia biên soạn về giai đoạn này, do Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam) xuất bản năm 2007, được đưa vào giảng dạy ở bậc trung học phổ thông từ khoảng năm 2009. Người trẻ ngày nay quan tâm nhiều hơn đến kinh tế, công nghệ và việc làm, và ranh giới giữa con cháu nạn nhân với con cháu gia đình Khmer Đỏ gần như không còn gay gắt: họ chơi chung, làm chung và kết hôn với nhau. Chính phủ Campuchia theo đường lối khép lại quá khứ để phát triển. Họ cam kết không truy tố diện rộng các cựu binh cấp thấp để tránh nguy cơ nội chiến tái phát, giúp họ tái hòa nhập và giữ lại tài sản, đồng thời giữ Bảo tàng Tuol Sleng và Cánh đồng Chết Choeung Ek làm nơi tưởng niệm. Tại Anlong Veng, nơi thiêu Pol Pot được DC-Cam dựng một mái che mới bằng khung thép và mái nhựa trong vào năm 2025, nhân dịp 50 năm ngày Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh, nhằm bảo tồn di tích như một bằng chứng lịch sử

Nhận xét