Khổng Tử, con người của chiến tranh

Khổng Tử, con người của chiến tranh KT đến nước Vệ, Vệ Linh Công ra đón và hỏi: - “Có thể nào phạt đất Bồ không?” KT đáp: - “Có thể”. Vệ Linh Công nói: - “Đại phu của ta cho rằng không thể công đánh. Đất Bồ nay là bức bình phong để nước Vệ phòng ngự nước Sở và nước Tống, dựa vào thực lực nước Vệ công đánh, e là không thành?”. KT nói: - “Bách tính nơi đó, nam nữ đều có lòng quyết tâm thề chết hiếu trung, nữ tử đều có mong ước thủ vệ Tây Hà (Bồ ở trong Tây Hà). Ta cho rằng điều cần chinh phạt, chẳng qua chỉ là bốn, năm kẻ dẫn đầu thôi”. Vệ Linh công nói: “Rất tốt”. Tuy nói thế nhưng vẫn không thảo phạt đất Bồ. (Sktmt, tr. 314) KT lúc này đã thể hiện rõ con người chiến tranh của mình, trước khi đến Vệ, ông đã điều nghiên rất kỹ, nhận xét sắc sảo tình hình của Vệ, Bồ để khuyên Linh Công đánh chiếm. KT đã không thấy tâm của Linh Công nên uổng lời? Không, KT biết khá rõ thể chất già yếu của Linh Công khó có thể chấp nhận việc chinh chiến vốn đòi hỏi nhiều sinh lực. Tuy nhiên, vốn là người của chiến tranh, KT cũng thấy ở sự già yếu ấy một cơ hội dành cho mình, nếu đánh động được tính cách tham lam của Linh Công thì KT có cơ hội tham chính là điều chắc chắn. Nhưng không, dù đã công phu như thế, một lần nữa KT lại thất bại. Nghe câu than khi không được tham chính của ông thật não nề: “Ví bằng dùng đến ta, trong vòng một tháng tới một năm thì đã khá, ba năm thì thành công. (LN, ch: XIII, b: 10) “Đức KT nói: Có ai ra ngoài không do cửa ngõ? Sao chẳng ai do đạo này tiến ra?” / “Tử viết: Thùy năng xuất bất do ngộ? Hà mạc do tư đạo dã!”. (LN, VI, 15) Quả thật, ngay đời ông đã vậy, sau khi ông mất cũng không lãnh tụ quốc gia nào theo “đạo” của ông. “Hết thảy các nước đời ‘Chiến Quốc’ đều theo chủ trương của Pháp gia”, theo Nguyễn Hiến Lê. (Cqs, tr. 16) Nói như Nguyễn Hiến Lê: Mặc tử suốt đời “mòn trán lỏng gót” cực khổ phục dịch thiên hạ, thì cũng có thể nói: KT suốt đời lo thi triển học thuyết chính trị Tu thân-tề gia- trị quốc-bình thiên hạ của mình. Suốt đời ông chỉ theo đuổi giấc mơ tham chính, không hề nản chí, tận dụng mọi cơ hội, thậm chí còn cố tạo ra cơ hội để thực hiện ước vọng của mình. KT rất mực tự tin ở con người mình, học thuyết mình, sẵn sàng đánh đổi danh tiếng vào ván cờ chính trị. Lần trước với kẻ phản chủ Công Sơn Phất Nữu, lần sau thì Phật Bật. Không những ông tin vào tài năng chính trị của mình, ông còn tin cả vào sự “hoàn lương” của Nữu và Bật. Một niềm tin sắc đá về khả năng chính trị như vậy thật đáng để muôn đời hậu sinh phải ngạc nhiên. Tuy Tam giáo ở Viễn Đông (Phật, Lão, Khổng) đều chọn con người làm đối tượng phụng sự, nhưng riêng Phật và Lão chọn xuất thế làm hành trạng, không quan tâm gì đến hạnh phúc trần giang, riêng Khổng giáo chọn cách nhập thế, hiến thân để hành xử với đời. Do đó điều cốt lõi của nền học thuyết Khổng Tử là ra làm quan, thi triển khả năng chinh phục và thống trị: Tử Cống nói: “Ở đây có viên ngọc đẹp (KT), nên giấu vào hòm hay cầu giá cao bán đi?”. Khổng Tử: “Bán đi chứ, bán đi chứ, ta đang đợi giá (để tham chính) đây”. (LN, IX, 12) “Ta là quả bầu (học tập thành tài), treo đó mà chẳng đem ăn (sử dụng) sao?”. (LN, XVII, 7) Sự sốt sắng, đam mê với chính trị như thế của một “vạn thế sư biểu” không khiến chúng ta, những người đời sau kinh ngạc ư? Có chứ! Kinh ngạc quá đi chứ, bởi có người hỏi KT rằng, “sao thầy chẳng làm chính trị?”. KT nói: “Kinh thư nói về hiếu thế này: ‘Chỉ riêng việc hiếu thảo, thuận hòa với anh em là có thi hành chính trị’. Thế cũng là làm chính trị, sao phải ra làm mới là làm chính trị?” (LN, II: 21). Niềm ao ước tham chính của KT đến già vẫn chưa thực hiện được, khiến không những ông than vãn, học trò ông cũng ngậm ngùi, buồn thương. Oái oăm là người ta mời học trò, nhưng không chịu mời thầy, làm kẻ được mời cũng cảm thấy ái ngại. Năm KT 60 tuổi. Quý Hoàn Tử chết, Khang Tử thay. Sau chôn cất, Khang Tử muốn mời KT nhưng Công Chi Ngư nói: - Xưa, tiên quân dùng ông ta không trót, nên chư hầu cười. Nay lại dùng ông ta không trót, chư hầu cười nữa. Khang Tử nói: - Nên mời ai? - Phải mời Nhiễm Cầu. Khang Tử bèn mời Nhiễm Cầu. Nhiễm Cầu sắp đi, KT nói: - Người Lỗ mời anh không phải để dùng việc nhỏ mà dùng vào việc lớn. Ngày hôm ấy, KT nói: - Về thôi! Về thôi! Bọn học trò của ta hăng hái nhưng nông nổi, đã khá về đạo đức, nhưng chưa biết giữ mình đúng đạo. Tử Cống biết KT nghĩ đến việc trở về Lỗ, nhân khi tiễn Nhiễm Cầu thì dặn luôn: - “Khi anh được dùng thì làm thế nào cho vua mời thầy”. (Sktmt, tr. 317, 318)

Nhận xét