khác biệt trong tư duy giữa Tây Phương (Tây Âu) và Trung Hoa về những ý niệm chủng tộc, dân tộc, và quốc gia
Những khác biệt trong tư duy giữa Tây Phương (Tây Âu) và Trung Hoa về những ý niệm chủng tộc , dân tộc, và quốc gia.
Trong lịch sử xã hội loài người, những tổ chức xã hội đầu tiên đưa tới sự hình thành các thị tộc, bộ lạc, đều bắt nguồn từ ý thức chủng tộc (ethnie).
Sau đó sự tiến triển của xã hội làm nẩy sinh ra một ý thức có khả năng tập hợp cao hơn, gọi là ý thức dân tộc ( peuple ).
Cuối cùng, những phát triển về kinh tế khiến ý thức dân tộc không đủ để kiến tạo một xã hội có sinh hoạt phức tạp hơn, đã tạo ra một ý thức có tầm cao hơn, gọi là ý thức quốc gia ( nation ). Ý thức Quốc gia đưa tới sự thành lập một tập hợp gồm nhiều thành phần của một dân tộc hay nhiều dân tộc khác nhau nhưng đều có chung một chính quyền, cùng nằm trên một khoảng đất liên tục.
Trong sự diễn tiến từ ý thức chủng tộc tới ý thức quốc gia, có sự khác biệt rất lớn giữa Tây phương và Trung hoa. Những lý do nào đã tạo ra sự khác biệt ấy? Tôi xin trình bày dưới đây.
Lí do thứ nhất là địa lý- nhân văn :
Những dân tộc Tây Âu hồi khởi đầu đa số là dân di cư đến từ Tây Á Bắc Ấn, Ba tư, có cùng một nguồn gốc tiếng nói là tiếng Phạn (sanscrit) Ấn độ nên được gọi chung là dân tộc Ấn-Âu. Những dân tộc này tọa lập ở những vùng đất bao quanh Địa Trung Hải chật hẹp khiến không có dân tộc nào có một vị trí trung ương, để có thể kiến tạo một quốc gia lục địa. Ý thức dân tộc chỉ đưa tới sự thành lập các thị xã ( cités) và các thành - quốc ( cité - états) như Athene. Sparte, Hi Lạp, Roma ( La Mã ) ở Ý. Carthage ở Bắc Phi châu.
Phải qua một thời gian cả mấy trăm năm, một trong những thành- quốc này, La Mã, mới thôn tính được những thành - quốc bao quanh Địa Trung Hải để trở thành một đế quốc, kiến tạo một xã hội phức tạp với nền kinh tế đa dạng nhờ sự phát triển thương mại và nông nghiệp với những thành quốc bị xâm chiếm. Là một thành quốc võ biền, La Mã khi tiếp xúc với nền văn minh và văn hóa Hi Lạp đã được Hi Lạp hoá, đem văn minh, văn hóa Hi Lạp truyền bá khắp đế quốc mình.
Ý thức Quốc gia ở Tây Âu, ngoại trừ Pháp, Anh và Nga, chỉ bắt đầu lớn mạnh từ thế kỷ thứ 19. Đức thống nhất nhờ có nước Phổ hùng mạnh. Ý mãi đến cuối thế kỷ thứ XIX mới thống nhất được nhờ công của Victor-Emmanuel. Truyền thống những thành - quốc vẫn tiếp tục cho đến thời Phục hưng như Venise, Naples, Gênes,Sicile ở Ý.
Liên minh Tây Âu ( UE ) bây giờ cũng chỉ là sự tiếp tục của đế quốc La Mã, ý tưởng quốc gia ở Tây Âu bị phai nhạt dần.
Trái lại đối với người Trung Hoa, chủng tộc đồng nghĩa với dân tộc. Trên đại lục Trung Hoa có 5 chủng tộc-dân tộc là Hán, Hồi, Tạng, Mãn, Mông. Nhưng tộc Hán được coi là thượng tôn nên những tộc Bách Việt đều đã bị Hán hóa trừ Việt Nam.
Ý thức quốc gia của người Hán cũng không thoát khỏi tư tưởng độc tôn : Trung Quốc tự coi là quốc gia trung tâm của thế giới (Empire du Milieu).
Lý do thứ hai : Tôn giáo
Các đạo Thiên chúa, bắt đầu từ Do Thái giáo đến KiTô giao và Hồi giáo, được truyền từ Cận Đông tới, đều đưa ra ý niệm chỉ có một đấng Tạo Hoá sinh ra con người và vạn vật nên mọi người, mọi chủng tộc đều bình đẳng. Khi Ki tô giáo, từ thế kỷ thứ 4 được đế quốc La Mã công nhận là đạo duy nhất thay thế các đạo Đa thần, không một dân tộc nào trong đế quốc La Mã có riêng một ông trời cho mình nữa. Ý tưởng Bình đẳng được tiếp tục nẩy nở ngay khi đế quốc La Mã không còn tồn tại.
Trái lại chỉ dân tộc Hán coi vua của mình là thiên tử , con của Trời, giữ mệnh Trời trị thiên hạ, các dân tộc man di phải thần phục thiên triều và người Hán là con Trời, các dân tộc khác là hung rợ, man di.
Khổng giáo được nhà Hán phục hưng với mục đích tạo ra những đạo lý để phục vụ chế độ mình, không thể coi là một đạo vì không có đức Tin.
Lý do thứ ba : Kinh tế phát triển nhờ giao thương qua đường hàng hải
Các dân tộc Tây phương sống quanh Địa Trung Hải có thể giao thương với nhau dễ dàng qua đường biển, nhờ vậy mà kinh tế trở thành đa dạng, chứ không chỉ giới hạn trong nông nghiệp. Thông thương qua đường biển tạo ra nhiều thị trường tiêu thụ, trao đổi hàng hóa, trao đổi kỹ thuật, tạo ra nhiều cơ hội học hỏi lẫn nhau, truyền bá những tư tưởng mới, những kiến thức khoa học và cũng tạo ra những môi trường cạnh tranh nhau, các thành quốc luôn luôn xung đột nhau.
Địa Trung Hải cũng cho phép thông ra các đại dương, nhờ vậy mà người Tây phương đã khám phá ra được những châu lục khác, chính phục những phần đất còn bỏ hoang trên thế giới như Mỹ châu, Úc châu... khai thác được những tài nguyên mới. Dân bản địa những châu lục này cũng chỉ là những dân di cư từ những lục khác, đặc biệt là Phi châu và Á châu từ thời tiền cổ.
Hậu quả của tư duy độc tôn là tự mình cô lập mình. Ngày trước thì xây Vạn lý Trường thành, cấm người ra biển. Ngày nay thì biến Biển Đông thành cái ao của mình.
Nếu để Biển Đông trở thành một Địa Trung Hải ở thời đại ngày nay thì nước Tàu ( T'Sing, Chine, China, Tần, Tàu) lợi hơn nhiều.
Nhận xét
Đăng nhận xét