Học thuyết Nho giáo khai sinh từ thời cổ đại, nhưng nó vẫn được sử dụng và duy trì mãi cho đến thời hiện đại ngày nay là một điều không thấy ở các học thuyết khác. Học thuyết Nho giáo đề ra những gì liên quan đến sự sống và nhân cách hết sức chỉn chu, kín kẻ và hoàn thiện đến không còn mơ ước nào hơn nữa.
“Đạo quân tử khởi đầu tự con người”; “Nhân bản Tâm linh lấy chính con người làm gốc”.
Có chủ trương như thế bởi Nho giáo hoàn toàn tin vào con người, cho nên lấy con người cụ thể bằng xương bằng thịt, trong không gian và thời gian này làm đích điểm để phụng sự. Học thuyết này tin con người có chất thần linh (homo homini deus), có thể vượt qua mọi nhục thể, bất chấp sự yếu nhược vốn có của một sinh vật sống. Con người là chủ trong tam tài, không để lòng bị nô lệ cho tôn giáo (thiên) hay kinh tế (địa) cơ mà.
Viễn Đông xem con người là trung tâm, có đủ năng lực xoay chuyển mọi tình thế bất lợi thành hữu ích cho nhân quần và cả cá nhân, miễn là tạo mọi điều kiện thuận lợi để tố chất siêu linh ấy được nãy nở, phát triển mà không bị trở ngại nào ngán trở là được. Tuy nhiên, khi tạo mọi điều kiện như thế thì xã hội đã xem con người như trẻ thơ, họ nâng niu thái quá theo kiểu con cưng non nớt, phải bao bọc, chăm sóc từng ly từng tý về các nhu cầu sống. Và điều đó trở thành chướng ngại, chứ không phải thuận tiện cho con người trưởng thành. Yêu thương như vậy họ đã vô tình hướng con người thành một sinh vật hưởng thụ. Học thuyết của Nho giáo chăm chút tỷ mẩn từng chút, bao trùm tất cả, từ vật chất đến tinh thần, không còn bất cứ thứ gì nằm ngoài sự tiên liệu của họ. Điều đó khiến đứa con cưng trở nên ẻo lả không thể trưởng thành, không đáng tin. Chính vì thế, không lạ gì khi Nho giáo dạy: “Dốc lòng tin, ham học, khéo giữ đạo đến chết. Đừng đến nước đang nguy, đừng ở nước đang loạn. Thiên hạ có đạo thì xuất hiện, không đạo thì ẩn dật” (“Đốc tín hiếu học, thủ tử thiện đạo. Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư. Thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc ẩn (LN. VIII. 13). Như vậy, dù cố sức học đạo nhưng đứa con cưng nếu thấy nước nguy sẽ không đến, thấy nước loạn phải bỏ đi. Xã hội sẽ ra sao, bởi thiên hạ có đạo thì cần gì kẻ “có học” xuất hiện? Kẻ có học thấy xã hội loạn phải ra giúp, chứ sao lại ẩn đi? Nếu đặt câu hỏi tại sao nền văn minh cao vời này lại lầm than triền miên trong suốt lịch sử của của họ, thì có thể đó là câu trả lời.
Triết Nho là một học thuyết chính trị sâu sắc, toàn diện, toàn triệt, cụ thể đến từng chi tiết thực tế về đời sống con người, một vấn đề mà không quốc gia chủng tộc nào không quan tâm, ngày nay chúng ta gọi đó là an sinh xã hội. Không những vậy, triết Nho còn là tôn giáo, thậm chí là một siêu tôn giáo, vì vô thần nên nó hướng con người thành thần, bởi nó được xây dựng để có thể đạt đến Nhân bản Tâm linh, mà Tiềm thức là tiền đường của Tâm linh, và Văn miếu là một bảo chứng. Văn miếu không là đền thờ để cầu kinh nhưng chắc chắn là để ghi ân Tiên Tổ, những người có công xây dựng Đạo. Đạo là Tính con người, là Bản năng không phải quỷ thần hay thượng đế nếu hiện thực được tính bản nhiên này, đó thật sự là một “cứu cánh”. Mọi “Tôn giáo khác chỉ là phương thế cần thiết để giải thoát khỏi những âu lo gây nên bởi cõi sau, bao lâu con người chưa đạt tới Tâm linh”. (Ccvn, tr. 147, 148) Chính con người sẽ là Thần linh nếu đạt đến đoạn 6 của trạng thái tâm thức: “Người an nhiên như một ông vua cầm giềng mối Thái hòa, điều lý thiên địa Vạn vật trong mối cộng thông êm ả với Trời và Đất. Thế là đã chấm dứt tình trạng vong thân”.
Lễ đặc sắc nhất của Nho giáo nguyên thủy là lễ gia quan, nhằm khuyến khích thanh niên phải trưởng thành, phải nhận ra giá trị của con người để có nhân đức. Đức là gì? Hàn Dũ định nghĩa: “Có đủ nơi mình, không mong chờ ở ngoài gọi là đức” / “Túc hồ kỷ vô đãi ư ngoại chi vị đức”. Như vậy nhân đức là khi không dựa vào thiên hay địa nhưng tự tín, tự cường. Đó là lối làm trưởng thành con người. (Thnđ, tr. 77) Chỉ có siêu phàm kiểu thần linh con người mới đạt đến khả năng này.
“Đức” trong Nho giáo là “linh lực”, là chỗ chí cực của vòng sinh. Đức cũng là Tính, tức cái toàn thể, không phải là thứ nhỏ bé có thể đối kháng”. Nhưng đối kháng làm gì khi con người được hứa hẹn sẽ đạt đến vị thế khả kính nếu đạt đến Đạo, vì Đạo mở lên, hướng thượng, thông tới tuyệt đối thể. Do đó đạo không khép kín, không vô thần vì khép kín-vô thần sao được, phải mở ra để khi đạt tới “Đạo” con người sẽ trở thành Thần linh. “Thiên mệnh chi vị tính” đã đưa Tâm linh (Tính con người) trở thành mục tiêu tối thượng của Nho giáo.
Tâm linh là gì? Nó là một khái niệm rộng, thay đổi theo hoàn cảnh, với nhiều sắc thái có thể cùng tồn tại. Thông thường, nó đề cập đến tiến trình tôn giáo tái khám phá dạng thức nguyên gốc của con người. Ngoài ra tâm linh còn là những hiện tượng kỳ bí, nằm ngoài phạm vi hiểu biết thông thường của con người như ngoại cảm, thần giao cách cảm, lên đồng, ma nhập, mộng du, bóng đè, thôi miên, chữa bệnh bằng tâm linh... mà khoa học không khám phá, giải thích và chứng minh được.
Tâm linh còn là một loại hiện tượng tinh thần đặc trưng nơi con người, biểu hiện ở một số người như là giác quan thứ sáu, có cơ sở là vết tích của "logic trực giác xuất thần" của loài động vật cấp thấp để lại trong quá trình phát triển thai người.
Như vậy, Tâm linh của Nho giáo là một ngưỡng vọng, một loại tôn giáo cực cao siêu nên nó là một vấn nạn gò bó tư duy cùng cực, do đó nó cũng là một loại ảo ảnh khó có thể nương theo hay loại bỏ. Các tôn giáo lấy thần linh làm đối tượng thì giáo dân có thể nương theo để nhờ cậy sự giúp đỡ, có thể xin và nhận nên tâm trí họ có thể nhẹ nhàng thơ thới, an yên. Còn ở Nho giáo, tồn tâm dưỡng tính là cách tu thân đơn độc, khó nhọc không thể cầu xin, không được sơ sẩy một nét dù nhỏ trong bất cứ tư duy, hành động, cử chỉ đã đành, nó còn bị khóa kín trong suy nghĩ để cuối cùng mới có thể đạt đến “đạo” và trở thành thần. Con người đã trở nên một “Đại ngã siêu linh”.
“Bản năng là tiếng trời, bất khả ngộ, và trường cửu, như bốn mùa nối tiếp nhau không hề sai. Tuân theo bản năng chính là tuân theo ý trời”. (Thnđ, tr. 182) Nho giáo cũng chính là nhân giáo, là đạo làm người. (Nb, tr. 50)
Là con người thì có bản năng của giống người, một bản năng mà chính Khổng Tử phải nói: “Ta chưa thấy ai ưa thích đức hạnh như ưa thích sắc đẹp” / “Ngã vị kiến háo đức như háo sắc giả dã” (LN. chương IX. Bài 17), ý ông nói là chưa gặp được người mà trung tâm chú ý để vào bình diện Đạo, để chí vào Đức. Lấy Đạo làm phần số của mình và “Tam niên học bất chí ư cốc nan đắc” / “Những người học ba năm mà không nghĩ tới lợi lộc là khó tìm”. Hay như: “Quả vậy thay! Ta chưa thấy ai ưa thích đức hạnh như ưa thích sắc đẹp” / “Dĩ hỹ hồ! ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả dã” (LN. chương XV. Bài 12).
Khổng Tử than như thế chứng tỏ nhục thể trong con người nói chung rất nặng, gần như không thể vượt qua những nan đề ông đưa ra: “ta với vũ trụ đều tham dự trong cùng một làn sóng mênh mông vô bến bờ”, “hợp với linh lực của trời đất”, “chú tâm vào điểm Nhân sinh cốt lõi, gỡ bỏ sinh lực ra khỏi dĩ vãng (như các ý niệm, những nhớ nhung hối tiếc… ) cũng như gỡ ra khỏi tương lai như âu lo, băn khoăn… ”.
Đạo quá cao xa chăng? Đúng! quá cao xa, nó vượt tầm đại chúng. Đạo của ông khởi xướng nhằm vào một thiểu số. Ông cổ súy: “Tính bản nhiên” con người là thiên lý, thứ thiên lý nội khởi: “Thiên lý tại nhân tâm”, là tâm linh: tâm chỉ tâm linh, “linh” chỉ phần linh diệu sáng láng ăn thông với “Thiên” một cách huyền diệu, là “huyền đồng”, cả hai ở liền nhau trực tiếp, là một mà không mảy may tư lợi, tư dục xen vào để hạn chế “Tính bản nhiên”, sáng đến mức xem thấy Tính thì lúc ấy gọi là Đạo: “Xuất Tính chi vi đạo”. Nghĩa là giữa mình và tính không còn gì chen ngang, “lúc đó” sẽ nhận thức ra cái Đạo Thể Viên Dung thì không còn coi đời một cách khắc nghị như trước, nhưng coi như một trò đùa và chính mình cũng vui đùa, chơi giỡn với, đóng vai trò giúp vui với và “cử nhất bộ” múa một chân, còn một chân với hai tay để trên cõi Đạo.
Cao xa vượt vượt tầm như thế nhưng, với nhu cầu giải phóng bản năng, gần như ai trong đám đông xã hội cũng muốn tham dự vào con đường khó khăn phức tạp này, ít ra cái họ có thể đạt được một cách tương đối là danh, dù cái danh hảo. Đạo ở đây chỉ có đạt và không đạt. Được tất cả hoặc không có gì cả, chứ không có khoảng cách lưng chừng để còn có thể tiếp tục thăng tiến ở lần sau, như ở các tôn giáo lấy thượng đế làm cứu cánh.
Chúng ta thấy Nho giáo gần như đã đạt đến mức tối đa của sự cần thiết về một nền văn hóa được khai sinh để hướng đạo cho toàn bộ đời sống con Người.
Sự thật thì thể chế xã hội nào cũng cần phát triển và con người nào cũng ham hiểu biết, do đó luôn luôn cần có những câu hỏi để chờ đáp án. Chắc chắn đã từng có người nẩy ra các câu hỏi đại loại như: con người còn lại gì sau khi chết, thì cũng luôn luôn có câu trả lời của Khổng Tử: “Sự sống còn chưa biết, tìm hiểu về cái chết làm gì?”. Các hiền triết, thánh nhân đã biết hết mọi sự. Những gì các hiền triết không muốn nói có nghĩa là chúng không quan trọng. Thế là chấm dứt, không chỉ về sự “sống/chết” mà cho tất cả.
Liệu đây có phải là một hấp lực to lớn khiến con người Viễn Đông ai ai cũng đều nô nức tin theo, từ thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, không bao giờ ngưng nghỉ. Tất cả nền học thuật đầy hứa hẹn ấy đã bảo đảm về một đầu ra chói sang, tạo cảm giác an toàn, tuyệt đối đến có thể Thành Nhân.
Khổng Tử, người của chiến tranh (tt)
Sự “chói sáng” của Khổng giáo làm lu mờ những nguồn sáng khác đã đành, nó còn che chắn tất cả các ánh đèn khác vừa mới le lói chưa kịp phát huy đã vội vụt tắt. Sự bảo bọc một cách chặt chẽ của Khổng giáo đã làm con người không còn mơ ước gì nữa, chính vì thế động lực phát triển cũng không còn, dù nhỏ. Nếu như châu Âu chìm đắm trong tăm tối của đêm trường Trung cổ hơn nghìn năm, thì trái lại sự “rực rỡ” của văn hóa Viễn Đông đã ru ngủ con người suốt thế hệ này đến thế hệ khác, ngủ yên không hề canh thức suốt từ thời Cổ đại đến hiện tại.
Bản chất con người được Nho giáo kỳ vọng, tin có một năng lực tiềm ẩn đến độ vi diệu, siêu phàm, huyền bí như vậy thì thật… đáng ngưỡng mộ. Nhưng với nhục thể yếu nhược vốn có, liệu con người có tiềm ẩn sự vi diệu ấy không?.
Nhận xét
Đăng nhận xét